Zestril 10mg

Zestril 10mgHÃNG SẢN XUẤT: Astrazeneca Singapor
NHÓM THUỐC: Tăng huyết áp
THÀNH PHẦN: viên nén dễ bẻ 10 mg : hộp 28 viên.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Lisinopril 10 mg
DƯỢC LƯC
Lisinopril là thuốc ức chế men chuyển peptidyl dipeptidase. Nó ức chế men chuyển angiotensin (ACE) xúc tác sự chuyển Angiotensin I thành chất peptide co mạch , angiotensin II. Angiotensin II cũng kích thích sự tiết aldosterone từ vỏ thương thận. Sự ức chế ACE làm giảm nồng độ angiotensin II huyết tương, giảm tác động tăng huyết áp và làm giảm tiết aldosterone. Tác động sau này làm cho nồng độ kali máu tăng lên.
Trong khi đươc tin là làm hạ huyết áp qua cơ chế tác động ức chế chủ yếu lên hệ thống renin-angiotensin-aldosterone, lisinopril vẫn có tác dụng hạ huyết áp ngay trên bệnh nhân bị cao huyết áp có nồng độ renin thấp. ACE cũng tương tự như kinase II là một men thoái biến bradykinin. Việc tăng nồng độ một peptide giãn mạch mạnh là bradykinin đóng vai trò như thế nào trong hiệu quả điều trị của lisinopril vẫn chưa đươc làm sáng tỏ.
Người ta biết rằng ACE hiện diện ở nội mô và hoạt tính ACE gia tăng ở bệnh nhân bị tiểu đường dẫn đến việc hình thành angiotensin II và phá hủy bradykinin, thúc đẩy sự tiêu hủy nội mô gây ra do tình trạng đường huyết tăng cao. Các thuốc ức chế ACE, bao gồm lisinopril, ức chế sự hình thành angiotensin II và phá hủy bradykinin và do đó cải thiện đươc rối loạn ở nội mô.
Tác động của lisonopril trên tốc độ tiết albumin niệu ở bệnh nhân tiểu đường là qua trung gian sự giảm huyết áp cũng như cơ chế trực tiếp trên mô thận và võng mạc.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Sau một liều uống lisinopril, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt đươc khoảng sau 7 giờ, mặc dù thuốc có khuynh hướng đạt đến nồng độ đỉnh trong huyết thanh chậm hơn chút ít ở các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp. Khi dùng nhiều lập lại, lisinopril có thời gian bán hủy tích tụ hiệu quả kéo dài trong 12,6 giờ.
Sự giảm nồng độ thuốc trong huyết thanh cho thấy một giai đoạn cuối kéo dài mà không có sự tích lũy thuốc. Giai đoạn cuối này có lẽ biểu hiện cho sự gắn kết bảo hòa với ACE và không tương quan tỷ lệ với liều lương. Lisinopril không gắn với các protein khác trong huyết tương. Suy thận làm giảm thải trừ lisinopril, vốn tiết qua thận. Tuy nhiên sự suy giảm này chỉ quan trong trên lâm sàng khi tốc độ loc cầu thận dưới 30 ml/phút. Bệnh nhân lớn tuổi có nồng độ thuốc trong máu và giá trị diện tích dưới đường cong thời gian – nồng độ huyết tương cao hơn so với bệnh nhân còn trẻ tuổi. Lisinopril có thể đươc loại khỏi cơ thể qua thẩm phân.
Dựa trên sự đánh giá các chất tìm thấy trong nước tiểu, lisinopril có độ hấp thu trung bình khoảng 25%, với sự chênh lệch giữa các bệnh nhân (6-60%) ở tất cả các liều lương đưoc thử nghiệm (5-80 mg).
Lisinopril không bị chuyển hóa và thuốc hấp thu đươc đào thải toàn bộ dưới dạng không đổi qua đường tiểu. Sự hấp thụ của lisinopril không bị ảnh hưởng bởi thức ăn trong ống tiêu hóa.
Nghiên cứu trên chuột cho thấy lisinopril đi qua hàng rào máu não rất ít.
Các thuốc ức chế men chuyển angiotensin có thể có tác dụng yếu hơn trên huyết áp ở bệnh nhân bị cao huyết áp da đen so với bệnh nhân các màu da khác.
Khi dùng kết hơp với các thuốc chống cao huyết áp khác, có thể có tác dụng hạ huyết áp cộng hơp.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Cao huyết áp
Zestril đươc chỉ định trong điều trị tăng huyết áp vô căn và tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận. Nó có thể đươc dùng một mình hoặc phối hơp với các thuốc hạ huyết áp loại khác.
Suy tim ứ huyết
Zestril đươc chỉ định trong kiểm soát suy tim ứ huyết, hỗ trơ cho điều trị với thuốc lơi tiểu và, trong trường hơp thích hơp, hỗ trơ cho điều trị với digitalis.
Nhồi máu cơ tim cấp
Zestril chỉ định cho điều trị cho bệnh nhân có huyết động hoc ổn định trong vòng 24 giờ sau nhồi máu cơ tim cấp, để ngăn ngừa sự phát triển tiếp sau đó của chứng suy thất trái hay suy tim và gia tăng khả năng sống còn. Bệnh nhân nên đươc áp dụng điều trị tiêu chuẩn đươc khuyến cáo thích hơp như thuốc ly giải huyết khối, aspirin và thuốc chẹn thụ thể beta.
Biến chứng trên thận của tiểu đường
Ở bệnh nhân tiểu đường phụ thuộc insulin có huyết áp bình thường và bệnh nhân tiểu đường không phụ thuộc insulin có huyết áp cao vừa mới chớm mắc bệnh lý thận đặc trưng bởi vi albumin niệu, Zestril làm giảm tốc độ tiết albumin niệu.
CÁCH DÙNG: Vì sự hấp thụ của Zestril không bị ảnh hưởng bởi thức ăn, có thể uống thuốc trước, trong, hay sau bữa ăn. Nên uống Zestril một lần duy nhất mỗi ngày. Cũng giống như các thuốc dùng theo phác đồ mỗi ngày một lần, nên uống Zestril vào một thời điểm cố định trong ngày.
Tăng huyết áp vô căn
Ở bệnh nhân tăng huyết áp vô căn, liều khởi đầu đươc khuyến cáo là 10 mg. Liều duy trì hiệu quả thông thường là 20 mg, uống một lần duy nhất mỗi ngày. Nên điều chỉnh liều lương theo đáp ứng huyết áp. Nói chung, nếu không thể đạt đươc hiệu quả điều trị mong muốn trong khoảng thời gian 2 đến 4 tuần ở một mức liều nào đó, có thể gia tăng liều. Liều tối đa đươc sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn có đối chứng là 80 mg/ngày.
Cần phải dùng liều khởi đầu thấp hơn khi có rối loạn chức năng thận, ở bệnh nhân không thể ngưng sử dụng lơi tiểu, ở bệnh nhân thiếu nước và/hoặc thiếu muối do moi nguyên nhân và bệnh nhân tăng huyết áp do bệnh lý ở mạch máu thận.
Bệnh nhân có dùng lơi tiểu
Tụt huyết áp có triệu chứng có thể xảy ra khi bắt đầu điều trị với Zestril ; điều này dễ xảy ra hơn ở bệnh nhân đang đươc điều trị cùng lúc với lơi tiểu. Do đó phải thận trong vì những bệnh nhân này có thể đang thiếu nước và/hoặc muối. Nên ngưng thuốc lơi tiểu 2-3 ngày trước khi bắt đầu điều trị với Zestril (xem phần Chú ý đề phòng và thận trong lúc dùng). Ở bệnh nhân tăng huyết áp không thể ngưng thuốc lơi tiểu, nên khởi đầu Zestril với liều 5 mg. Liều Zestril tiếp theo nên điều chỉnh tùy theo đáp ứng của huyết áp. Nếu cần thiết, có thể dùng thuốc lơi tiểu trở lại.
Điều chỉnh liều lương ở bệnh nhân suy thận
Liều lương ở bệnh nhân suy thận phải đươc dựa trên độ thanh thải creatinine như mô tả ở bảng I.
Bảng I :
Độ thanh thải creatinine (ml/phút) Liều khởi đầu (mg/ngày)
dưới 10 ml/phút (kể cả bệnh nhân thẩm phân) 2,5 mg*
10-30 ml/phút 2,5-5 mg
31-70 ml/phút 5-10 mg
*Liều và/hoặc khoảng các dùng thuốc nên điều chỉnh theo đáp ứng huyết áp.
Liều lương có thể đươc tăng dần cho đến khi kiểm soát đươc huyết áp hoặc tới liều tối đa 40 mg mỗi ngày.
Tăng huyết áp do bệnh lý động mạch thận
Một số bệnh nhân với tăng huyết áp do hẹp động mạch thận 2 bên hoặc hẹp động mạch thận của thận duy nhất có thể có đáp ứng quá mức với liều khởi đầu của Zestril. Do đó nên dùng liều khởi đầu thấp hơn, khoảng 2,5 hay 5 mg. Sau đó liều lương sẽ đươc điều chỉnh theo đáp ứng của huyết áp.
Suy tim ứ huyết
Zestril đươc sử dụng hỗ trơ thêm cho tác dụng của thuốc lơi tiểu và, trong một số trường hơp thích hơp, digitalis với liều khởi đầu 2,5 mg mỗi ngày. Trong các thử nghiệm lâm sàng, liều lương đươc điều chỉnh cách khoảng 4 tuần ở bệnh nhân cần tác dụng điều trị bổ sung. Nên điều chỉnh liều dựa trên đáp ứng lâm sàng của từng bệnh nhân. Liều thông thường có hiệu quả nằm trong khoảng từ 5 tới 20 mg một lần mỗi ngày.
Ở bệnh nhân có nguy cơ cao về tụt huyết áp có triệu chứng, ví dụ bệnh nhân thiếu muối có hay không có giảm natri máu, bệnh nhân giảm thể tích nội mạch hoặc bệnh nhân đã đươc điều trị tích cực bằng lơi tiểu, các rối loạn này phải đươc điều chỉnh trước, nếu đươc, trước khi điều trị với Zestril. Tác dụng của liều Zestril đầu tiên trên huyết áp phải đươc theo dõi cẩn thận.
Nhồi máu cơ tim cấp
Điều trị bằng Zestril có thể khởi đầu trong vòng 24 giờ sau khi khởi phát triệu chứng. Liều Zestril khởi đầu là uống 5 mg, sau đó là 5 mg sau 24 giờ, 10 mg sau 48 giờ và rồi 10 mg hằng ngày cho các ngày sau đó. Bệnh nhân có huyết áp tâm thu thấp (120 mmHg hay thấp hơn) khi điều trị khởi đầu hay trong 3 ngày đầu tiên sau khi nhồi máu nên fùng liều thấp hơn – 2,5 mg theo đường uống (xem phần Chú ý đề phòng và thận trong lúc dùng). Nếu có hạ huyết áp (huyết áp tâm thu £100 mmHg), nên giảm tạm thời liều duy trì hằng ngày 5 mg xuống còn 2,5 mg nếu cần thiết. Nếu hạ huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hay kéo dài hơn một giờ), nên ngưng dùng Zestril.
Nên dùng thuốc liên tục trong 6 tuần lễ. Những bệnh nhâncó triệu chứng suy tim nên tiếp tục dùng Zestril (Xem phần Liều lương và cách sử dụng cho Suy Tim Ứ Huyết).
Zestril tương thích với glyceryl trinitrate dùng đường tĩnh mạch hay dạng tác dụng qua da.
Biến chứng thận của bệnh tiểu đường
Ở bệnh nhân đường tiểu đường không phụ thuộc insulin có huyết áp bình thường, liều hàng ngày là 10 mg Zestril mỗi ngày một lần có thể tăng lên 20 mg mỗi ngày một lần nếu cần thiết để đạt đến huyết áp tâm trương ở vị trí ngồi dưới 75 mmHg. Ở bệnh nhân tiểu đường không phụ thuộc insulin bị cao huyết áp, phác đồ liều lương cũng như trên để đạt đến huyết áp tâm trương ở vị trí ngồi dưới 90 mmHg.
Sử dụng cho trẻ em
Chưa xác lập đươc tính an toàn và hiệu quả cuả thuốc ở trẻ em.
Sử dụng cho người lớn tuổi
Qua các nghiên cứu lâm sàng, không có thay đổi nào liên quan đến tuổi tác bệnh nhân trên đặc tính an toàn và hiệu quả của thuốc. Tuy nhiên, do tuổi tác cao liên quan đến sự suy giảm chức năng thận, nên hướng dẫn ở Bảng I (xem phần Điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy thận) để xác định liều Zestril dùng khởi đầu. Sau đó, liều lương nên đươc điều chỉnh tùy theo đáp ứng huyết áp.
QUÁ LIỀU
Triệu chứng quá liều có thể bao gồm tụt huyết áp nặng, rối loạn chất điện giải và suy thận. Nên theo dõi thật chặt chẽ bệnh nhân dùng thuốc quá liều. Các biện pháp điều trị tùy thuộc vào bản chất và mức độ trầm trong của triệu chứng. Nên thực hiện các biện pháp ngăn chặn sự hấp thu và tăng nhanh sự đào thải. Nếu tụt huyết áp nặng, nên đặt bệnh nhân nằm ngửa và truyền tĩnh mạch nhanh dung dịch muối đẳng trương. Có thể xem xét điều trị với angiotensin II (nếu có sẵn). Các thuốc ức chế men chuyển có thể đươc lấy khỏi hệ tuần hoàn bằng cách chạy thận nhân tạo. Nên tránh dùng màng loc polyacrylonitrile lưu lương cao. Chất điện giải và creatinine huyết thanh nên đươc kiểm soát thường xuyên.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Tụt huyết áp có triệu chứng
Tụt huyết áp có triệu chứng hiếm gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp không có biến chứng. Ở bệnh nhân cao huyết áp dùng Zestril, tụt huyết áp dễ xảy ra khi bệnh nhân bị giảm thể tích nội mạch ví dụ như do lơi tiểu, chế độ ăn giới hạn muối, thẩm phân, tiêu chảy hoặc nôn mửa (Xem phần Tương tác thuốc và Tác dụng ngoại ý). Ở bệnh nhân suy tim ứ huyết có hay không có suy thận kèm theo, tụt huyết áp có triệu chứng cũng đã đươc ghi nhận. Điều này có khả năng xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân suy tim ở các mức độ nặng hơn, biểu hiện qua việc dùng thuốc lơi tiểu quai liều cao, giảm nồng độ natri máu hoặc suy thận chức năng. Ở những bệnh nhân có nguy cơ gia tăng bị cao huyết áp có thể hiện triệu chứng, khởi đầu điều trị và điều chỉnh liều nên đươc theo dõi chuyên khoa chặt chẽ. Cũng nên áp dụng những biện pháp tương tự ở bệnh nhân bị bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh mạch máu não mà sự tụt huyết áp quá mức có thể dẫn tới nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.
Nếu xảy ra tụt huyết áp, nên để bệnh nhân nằm và, nếu cần, truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Tụt huyết áp thoáng qua không phải là chống chỉ định cho việc dùng những liều kế tiếp, điều thường có thể đươc thực hiện không khó khăn gì một khi huyết áp đã đươc nâng lên sau truyền dịch.
Cũng như các thuốc giãm mạch khác, nên thận trong khi dùng Zestril cho các bệnh nhân bị hẹp lỗ động mạch chủ hay bệnh cơ tim phì đại.
Ở một vài bệnh nhân bị suy tim ứ huyết có huyết áp bình thường hoặc thấp, huyết áp có thể hạ hơn nữa với Zestril. Tác dụng này đươc lường trước và thường không phải là lý do để ngưng thuốc. Nếu tụt huyết áp có triệu chứng, có thể phải giảm liều hoặc ngưng sử dụng Zestril.
Tụt huyết áp trong nhồi máu cơ tim cấp
Không đươc chỉ định dùng lisinopril cho bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp có thêm nguy cơ suy giảm huyết động hoc trầm trong sau khi điều trị bằng thuốc giãn mạch. Các trường hơp này xãy ra ở các bệnh nhân có huyết áp tâm thu ở mức 100 mmHg hay thấp hơn hay sốc do tim. Trong ba ngày đầu tiên sau nhồi máu cơ tim, nên giảm liều nếu huyết áp tâm thu là 120 mmHg hay thấp hơn. Liều duy trì nên giảm xuống 5 mg hay tạm thời đến 2,5 mg nếu huyết áp tâm thu là 100 mg hay thấp hơn. Nếu vẫn tiếp tục hạ huyết áp (huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg trong hơn 1 giờ), nên ngưng dùng Zestril.
Rối loạn chức năng thận
Ở bệnh nhân suy tim ứ huyết, tụt huyết áp khi khởi đầu điều trị với thuốc ức chế men chuyển có thể làm tình trạng rối loạn chức năng thận nặng thêm. Suy thận cấp, thường là có hồi phục, đã đươc ghi nhận trong trường hơp này.
Ở một số bệnh nhân hẹp động mạch thận 2 bên hoặc hẹp động mạch thận của thận duy nhất điều trị với thuốc ức chế men chuyển, một sự gia tăng urê huyết và creatinine huyết thanh, hồi phục khi ngưng điều trị, đã đươc ghi nhận. Điều này đặc biệt dễ xảy ra ở bệnh nhân có suy thận. Nếu bệnh nhân cũng bị cao huyết áp do bệnh lý động mạch thận, nguy cơ cao huyết áp nặng và suy thận tăng lên. Ở những bệnh nhân này, nên bắt đầu điều trị dưới sự theo dõi chuyên khoa cẩn thận cùng với việc dùng các liều thấp và điều chỉnh liều thật cẩn thận. Do việc điều trị với thuốc lơi tiểu có thể là một yếu tố góp phần vào tác dụng trên, nên ngưng các thuốc này và kiểm soát chức năng thận trong vài tuần lễ dùng Zestril đầu tiên.
Một số bệnh nhân tăng huyết áp không đồng thời bị bệnh lý mạch máu thận cũng tăng urê huyết và creatinine huyết thanh, thường là nhẹ và thoáng qua, đặc biệt khi Zestril đươc dùng kèm lơi tiểu. Điều này dễ có khả năng xảy ra hơn ở bệnh nhân đã có suy thận. Có thể cần phải giảm liều và/hoặc ngưng lơi tiểu và/hoặc Zestril.
Trong nhồi máu cơ tim cấp, việc điều trị với lisinopril không nên khởi đầu ở bệnh nhân có biểu hiện suy thận, tức là nồng độ creatinine huyết quá 177 micromol/lít và/hoặc protein niệu quá 500 mg/24giờ. Nếu tăng suy thận trong khi dùng Zestril (nồng độ creatinine huyết thanh vươt quá 265 micromol/lít hay gấp đôi các trị giá trước khi điều trị), bác sĩ nên xem xét đến việc ngưng dùng Zestril.
Bệnh nhân chạy loc máu
Các phản ứng dạng phản vệ đã đươc ghi nhận ở bệnh nhân đang loc máu theo một số phương thức (ví dụ với màng loc lưu lương cao AN 69) và điều trị cùng lúc với thuốc ức chế men chuyển. Ở những bệnh nhân này, phải đổi loại màng loc thẩm phân hoặc đổi sang loại thuốc điều trị tăng huyết áp khác.
Quá mẫn/phù mạch
Phù mạch ở mặt, chi, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản đã đươc ghi nhận một cách hãn hữu ở các bệnh nhân điều trị với thuốc ức chế men chuyển, trong đó có Zestril. Trong trường hơp này, phải ngưng ngay Zestril và phải theo dõi thích hơp để bảo đảm các triệu chứng đã hết hoàn toàn trước khi cho bệnh nhân xuất viện. Các trường hơp phù chỉ khu trú ở mặt và môi thường tự hết không phải điều trị, mặc dù các triệu chứng có thể đươc giải quyết một cách hiệu quả với các thuốc kháng histamine.
Phù mạch đi kèm với phù thanh quản có thể gây tử vong. Trong những trường hơp có phù ở lưỡi, thanh môn, thanh quản, có khả năng gây tắt đường thở, nên áp dụng các biện pháp cấp cứu ngay lập tức như tiêm adrenaline và/hoặc duy trì đường mở thông khí. Bệnh nhân nên đươc theo dõi y khoa cẩn thận cho đến khi giải quyết hoàn toàn và ổn định các triệu chứng.
Các thuốc ức chế men chuyển gây tỷ lệ phù mạch cao hơn ở bệnh nhân da đen so với bệnh nhân các màu da khác.
Các bệnh nhân có tiền căn phù mạch không do thuốc ức chế men chuyển có thể có nguy cơ bị phù mạch nhiều hơn khi dùng thuốc ức chế men chuyển (xem Chống chỉ định).
Chủng tộc
Các thuốc ức chế men chuyển gây tỷ lệ phù mạch cao hơn ở bệnh nhân da đen so với bệnh nhân các màu da khác.
Giải mẫn cảm
Đã có phản ứng dạng phản vệ chậm ở bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển trong quá trình điều trị giải mẫn cảm (ví dụ noc hymenoptera). Trên cùng một bệnh nhân, các phản ứng có thể không xảy ra khi thuốc ức chế men chuyển đươc tạm ngưng nhưng sẽ xuất hiện một lần nữa khi vô tình tiếp xúc lại với thuốc.
Ho
Ho đã đươc ghi nhận khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Điển hình là ho khan, kéo dài và tự hết khi ngưng thuốc. Ho do thuốc ức chế men chuyển phải đươc xem như là một phần của việc chẩn đoán phân biệt ho.
Phẫu thuật/gây mê
Ở bệnh nhân đươc đại phẫu hoặc gây mê bằng thuốc có thể làm tụt huyết áp, Zestril có thể ngăn sự thành lập angiotensin II thứ phát sau sự phóng thích renin bù trừ. Nếu tụt huyết áp xảy ra và đươc cho là do cơ chế này, có thể đươc điều trị bằng cách làm tăng thể tích nội mạch.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành mày móc
Không có chú trong đặc biệt nào, xin xem thêm phần Tác dụng ngoại ý.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Sử dụng ở thai kỳ
Không nên sử dụng lisinopril trong thai kỳ. Khi có thai phải ngưng lisinopril càng sớm càng tốt trừ khi nó đươc xem như có tính chất sinh tử đối với người mẹ. Các thuốc ức chế men chuyển có thể gây bệnh và tử vong cho bào thai và trẻ sơ sinh khi đươc dùng ở thai phụ vào 3 tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ. Việc sử dụng thuốc ức chế men chuyển vào giai đoạn này gây tổn hại cho thai nhi và trẻ sơ sinh bao gồm tụt huyết áp, suy thận, tăng kali máu và/hoặc thiểu sản so ở trẻ sơ sinh. Thiểu ối ở mẹ, có lẻ phản ảnh sự giảm chức năng thận của thai nhi, có xảy ra và có thể làm co rút chi, biến dạng đầu mặt và thiểu sản phổi.
Các tác dụng ngoại ý trên phôi và thai nhi không có vẻ là hậu quả của sự sử dụng thuốc ức chế men chuyển ở 3 tháng đầu thai kỳ.
Nếu lisinopril đươc dùng trong thai kỳ, phải báo bệnh nhân biết về những tai biến có thể xảy ra cho thai nhi. Trong các trường hơp hiếm hoi mà việc sử dụng trong thai kỳ đươc nghĩ là cần thiết, phải siêu âm nhiều lần để đánh giá lương nước ối. Nếu phát hiện thiểu ối, phải ngưng lisinopril trừ khi nó đươc xem là có tính sinh tử đối với mẹ. Bệnh nhân và thầy thuốc phải biết là thiểu ối có thể chưa xuất hiện cho tới khi thai nhi đã có các tổn thương không hồi phục.
Các trể sơ sinh có mẹ dùng lisinopril phải đươc theo dõi sát phòng tụt huyết áp, thiểu niệu và tăng kali máu. Lisinopril, có đi qua nhau, đã đươc lấy khỏi tuần hoàn trẻ sơ sinh bằng thẩm phân phúc mạc với một số ích lơi lâm sàng và trên lý thuyết có thể đươc lấy ra bằng cách truyền máu thay thế.
Giai đoạn cho con bú
Người ta không biết Zestril có đươc tiết qua sữa ở người hay không. Vì có nhiều loại thuốc đươc bài tiết qua sữa ở người, phải thận trong khi dùng ở người mẹ đang cho con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Lơi tiểu
Khi thêm một thuốc lơi tiểu vào phác đồ điều trị của bệnh nhân đang có dùng Zestril, tác dụng hạ áp thường sẽ đươc cộng thêm vào.
Bệnh nhân đang dùng lơi tiểu và đặc biệt là những bệnh nhân mới đươc dùng lơi tiểu, đôi khi bị hạ huyết áp quá mức khi Zestril đươc sử dụng thêm. Khả năng bị tụt huyết áp có triệu chứng với Zestril, có thể đươc giảm thiểu bằng cách ngưng lơi tiểu trước khi khởi đầu điều trị với Zestril (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trong lúc dùng và Liều lương và cách sử dụng).
Các thuốc khác
Indomethacin có thể làm giảm hiệu quả hạ áp của Zestril đang dùng đồng thời. Ở một vài bệnh nhân có suy yếu chức năng thận đang đươc điều trị với các thuốc kháng viêm không steroid, việc sử dụng đồng thời lisinopril có thể làm suy yếu hơn nữa chức năng thận.
Zestril đã đươc dùng kèm với các nitrate mà không có tác dụng phụ đáng kể trên lâm sàng.
Cũng như với moi loại thuốc làm thải natri khác, sự thải lithium có thể giảm. Do đó, phải theo dõi cẩn thận nồng độ lithium huyết thanh nếu có dùng muối lithium.
Mặc dù trên thử nghiệm lâm sàng kali huyết thanh thường nằm trong giới hạn bình thường, kali máu thật sự tăng trong một số trường hơp. Các yếu tố thúc đẩy tăng kali máu bao gồm suy thận, tiểu đường và việc sử dụng đồng thời một thuốc lơi tiểu giữ kali (ví dụ spironolactone, triamterene hoặc amiloride), uống thêm kali hoặc các loại chất thế muối có chứa kali. Việc dùng thêm kali, lơi tiểu giữ kali, các chất thế muối có chứa kali , nhất là ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thận, có thể làm tăng kali máu một cách đáng kể.
Nếu việc dùng đồng thời Zestril với bất kỳ thuốc nào đã trình bày ở trên đươc cho là cần thiết, chúng phải đươc dùng cẩn thận với sự theo dõi kali máu thường xuyên.
Nếu Zestril đươc dùng với một thuốc lơi tiểu mất kali, tình trạng hạ kali máu do lơi tiểu có thể giảm.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, Zestril thường đươc dung nạp tốt. Trong đa số các trường hơp, các tác dụng ngoại ý thường nhẹ và thoáng qua.
Các tác dụng ngoại ý thường gặp nhất của Zestril trong các thử nghiệm có đối chứng : chóng mặt, nhức đầu, tiêu chảy, mệt, ho và buồn nôn. Các tác dụng ngoại ý khác, ít gặp hơn : các tác dụng theo thế đứng (kể cả tụt huyết áp), nổi ban và suy nhươc.
Quá mẫn/phù mạch
Phù mạch ở mặt, chi., môi, lưỡi , thanh môn và/hoặc thanh quản hãn hữu đã đươc ghi nhận (xem Chú ý đề phòng và thận trong lúc dùng).
Các tác dụng ngoại ý hiếm gặp, trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng hoặc sau khi đưa thuốc vào thị trường, bao gồm :
Tim mạch
Nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não, có lẽ thứ phát sau khi tụt huyết áp quá mức ở bệnh nhân có nguy cơ cao (xem Chú ý đề phòng và thận trong lúc dùng).
hồi hộp
nhịp tim nhanh
Tiêu hóa
đau bụng
khô miệng
viêm gan (tế bào gan hoặc ứ mật)
vàng da
viêm tụy
Hệ thần kinh
thay đổi tính tình
lú lẫn tâm thần
dị cảm
Hệ hô hấp
co thắt khí quản
Da
rụng tóc
toát mồ hôi
ngứa ngáy
mày đay
Niệu – dục
bất lực
thiểu niệu/vô niệu
suy thận cấp
rối loạn chức năng thận
urê máu
Một phức hơp triệu chứng đã đươc ghi nhận và có thể bao gồm một hoặc nhiều triệu chứng sau đây :
sốt, viêm mạch máu, đau cơ, đau khớp/viêm khớp, ANA dương tính, tăng vận tốc lắng máu, tăng bạch cầu ái toan, tăng bạch cầu, ban, nhạy cảm ánh sáng và các biểu hiện ở da khác có thể xảy ra.
Các kết quả xét nghiệm
Các biến đổi quan trong trên lâm sàng của các thông số xét nghiệm chuẩn hiếm khi xảy ra với việc dùng Zestril. Tăng urê máu. creatinine huyết thanh, các men gan và bilirubin huyết thanh, thường là hồi phục khi ngưng Zestril, đã đươc ghi nhận.
Suy tủy, biểu hiện ở chứng thiếu máu và/hoặc giảm tiểu cầu và/hoặc giảm bạch cầu đã đươc ghi nhận. Mất bạch cầu hạt hiếm khi đươc báo cáo mặc dù chưa xác định đươc mối liên quan nhân quả. Hiếm khi ghi nhận đươc chứng thiếu máu huyết tán.
Giảm nhẹ hemoglobin và dung tích hồng cầu, hiếm khi tới mức đáng kể trên lâm sàng trừ khi có nguyên nhân gây thiếu máu khác cùng hiện diện.
Đã xuất hiện chứng tăng kali máu.
Đã xuất hiện chứng giảm natri máu.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Zestril chống chỉ định ở các bệnh nhân quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của sản phẩm, bệnh nhân có tiền căn phù mạch do điều trị trước đó với một thuốc ức chế men chuyển và bệnh nhân bị phù mạch di truyền hay tự phát.

Leave a Reply