Zeffix

ZeffixHÃNG SẢN XUẤT: Glaxowellcome
NHÓM THUỐC: Gan mật
THÀNH PHẦN: viên nén 100 mg : hộp 14 viên, 28 viên – Bảng A.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Lamivudine 100 mg
TÍNH CHẤT
Zeffix là chất đồng đẳng nucleoside (-)-2,3-dideoxy-3-thiacytidine có hoạt tính kháng virus đặc hiệu trên virus viêm gan B (HBV). Thuốc làm giảm sự sao chép HBV một cách nhanh chóng và mạnh mẽ qua sự ức chế tổng hơp DNA virus.
DƯỢC LƯC
Zeffix là một chất đồng đẳng deoxycytidine ở dạng (-)-enantiomere tinh khiết, nghĩa là nó hiện diện ở dạng cấu hình ngươc lại với nucleoside tự nhiên. Các protein ở người tương tác với các nucleoside thường có tính chon loc cao đối với cấu hình (+) và do đó có thể không tương tác với Zeffix. Đây là đặc điểm quan trong do nó làm giảm khả năng gây độc của Zeffix.
Cơ chế tác động : Cơ chế tác động chủ yếu của Zeffix bao gồm sự ức chế tổng hơp DNA virus. Tác động này xảy ra chủ yếu qua sự kết hơp vào HBV DNA vừa mới tổng hơp, gây kết thúc chuỗi tiến trình tổng hơp. Sự ức chế tương tranh trên DNA polymerase mã hóa DHBV cũng đã đươc chứng minh. Zeffix là một chất ức chế cạnh tranh yếu trên DNA polymerase của tế bào người bệnh và không làm kết thúc chuỗi tổng hơp DNA của tế bào người bệnh. Zeffix không ức chế trực tiếp sự tổng hơp protein của virus, tuy nhiên việc giảm tổng hơp protein virus là hậu quả của sự ức chế tổng hơp DNA virus. Nhất quán với cơ chế này, việc giảm HBeAg và HBsAg trong huyết thanh ở bệnh nhân xảy ra chậm hơn nhiều so với giảm virus trong máu.
Zeffix cần có sự phosphoryl hóa nội bào để thể hiện tác động kháng virus. Vì vậy, khả năng kháng virus của nó liên hệ chặt chẽ với hàm lương Zeffix triphosphate sản sinh trong tế bào nhiễm HBV. Khi ở trong các lympho bào máu ngoại vi, Zeffix đươc phosphoryl hóa thành dẫn xuất 5′-triphosphate ở các tế bào 2.2.15.
Virus hoc : In vitro Zeffix có hoạt tính kháng virus mạnh trên HBV và virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV). Zeffix không có hoạt tính trên các tác nhân gây bệnh khác ở người bao gồm các virus gây viêm gan khác, virus gây bệnh đường hô hấp, herpes virus, vi khuẩn và nấm. Tính chon loc này của Zeffix có thể do phương thức tác động chủ yếu của nó là tương tác với men DNA polymerase phụ thuộc RNA mã hóa virus (reverse transcriptase – men sao mã ngươc). Reverse transcriptase cần thiết cho sự nhân đôi của cả HBV và HIV nhưng không cần thiết cho các vi sinh vật gây nhiễm khác hay cho người.
Hoạt tính kháng HBV của Zeffix in vitro : Zeffix ức chế mạnh sự sao chép HBV in vitro, cho giá trị IC50 (IC50 là nồng độ thuốc làm giảm 50% sự nhân đôi) là 0,008 – 0,032 mM trong tế bào khối u ở gan bị HBV (tế bào 2.2.15). Trong các thí nghiệm này, lamivudine mạnh hơn nhiều so với các chất đồng đẳng nucleoside đươc tìm thấy trước đó như ara-AMP hay ganciclovir. Zeffix cũng có tính chon loc cao : Sự ức chế phân chia tế bào trong mẫu cấy mô đã chỉ đươc quan sát ở nồng độ cao hơn ít nhất 10 000 lần giá trị IC50 trên virus.
Hoạt tính kháng HBV của Zeffix in vivo : Ngoài loài người, HBV chỉ nhiễm trên tinh tinh và một vài loài linh trưởng cao cấp hơn. Do đó, tinh tinh đươc sử dụng như một phương tiện đánh giá hoạt tính kháng virus in vivo của Zeffix trên HBV người. Hiện nay người ta biết đươc rất ít biến thể của HBV trên thú, như virus viêm gan siêu vi B ở vịt (DHBV). Giống như HBV ở người, các virus này có tính đặc hiệu loài cao nhưng mặt khác lại tương tự về mặt sinh hoc với virus ở người. Hai nghiên cứu ở tinh tinh bị nhiễm virus mãn tính đã xác định rằng Zeffix có hoạt tính kháng virus mạnh trên HBV in vivo. Tương tự, các nghiên cứu đã cho thấy rằng Zeffix làm giảm DHBV ở vịt Bắc kinh bị nhiễm virus mãn tính. Tuy nhiên, trong tất cả các nghiên cứu này, hàm lương HBV DNA huyết thanh đã trở về tình trạng như trước khi điều trị vài tuần sau khi chấm dứt trị liệu.
Điều trị kết hơp : Zeffix với IFN-a : Hai nghiên cứu lâm sàng ở pha III (B3010, AB3011) khảo sát hiệu quả của Zeffix dùng kết hơp với IFN-a trong điều trị viêm gan siêu vi B. Cơ sở hơp lý cho các nghiên cứu này dựa trên các phương thức tác động khác nhau của IFN-a và Zeffix và khả năng tương tác hiệp đồng của chúng. Các nghiên cứu này đươc thiết kế để đánh giá ảnh hưởng của việc cộng thêm Zeffix vào một đơt điều trị tiêu chuẩn với IFN-a.
Nghiên cứu B3010 so sánh đơn trị liệu Zeffix với đơn trị liệu IFN-a với trị liệu kết hơp Zeffix/IFN-a ở những bệnh nhân chưa đươc điều trị với interferon trước đó. Nghiên cứu AB3011 so sánh đơn trị liệu Zeffix và trị liệu kết hơp Zeffix/IFN-a với placebo ở bệnh nhân không có đáp ứng với IFN-a trước đó.
Đáp ứng kháng thể HbeAg trong huyết thanh : Điều trị Zeffix trong 1 năm dẫn đến việc biến mất HBeAg và tỷ lệ đáp ứng kháng thể HBeAg cũng tương tự như tỷ lệ thu đươc với điều trị tiêu chuẩn với IFN-a (B3010) và cao hơn so với tỷ lệ thu đươc từ điều trị placebo (AB3011). Tỷ lệ đáp ứng kháng thể trong huyết thanh cho điều trị kết hơp Zeffix/IFN-a cao hơn so với đơn trị liệu Zeffix hoặc IFN-a ở bệnh nhân chưa đươc điều trị trước đó (B3010). Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê trong phân tích ban đầu. Điều trị kết hơp không có ích lơi gì hơn so với đơn trị liệu Zeffix ở những người không có đáp ứng với interferon (AB3011).
Trong các thử nghiệm lâm sàng với Zeffix, đơn trị liệu với Zeffix hay IFN-a làm biến mất HBeAg và tỷ lệ đáp ứng kháng thể cũng tương tự như tỷ lệ đươc báo cáo trong phân tích meta thống kê từ các số liệu của 15 nghiên cứu độc lập với nhau về tác dụng của IFN-a trên viêm gan B. Trong nghiên cứu A3010, HBeAg biến mất xảy ra với tỷ lệ 32% và 11% bệnh nhân đươc điều trị tương ứng với Zeffix hay placebo. Trong nghiên cứu B3010, HBeAg biến mất xảy ra với tỷ lệ 22% trong cả hai nhóm dùng Zeffix và IFN-a. Trong một phân tích meta, sự biến mất HBeAg xảy ra ở 33% bệnh nhân dùng IFN-a và 12% bệnh nhân không đươc điều trị.
Mô hoc của gan : Ở những người không đáp ứng với IFN-a (AB3011), bệnh nhân dùng Zeffix cho thấy có kết quả xét nghiệm mô hoc của gan có cải thiện nhiều hơn so với placebo (p=0,002). Ở những bệnh nhân chưa đươc điều trị (B3010), có một tỷ lệ hơi cao hơn bệnh nhân sử dụng Zeffix cho cải thiện mô hoc của gan vào tuần thứ 52 so với bệnh nhân sử dụng IFN-a hay kết hơp Zeffix/IFN-a. Zeffix cũng cho thấy tỷ lệ đáp ứng về mô hoc cao hơn ở những bệnh nhân này so với điều trị kết hơp Zeffix/IFN-a ; tuy nhiên, các sai biệt sau cùng này không có ý nghĩa thống kê.
Trong xếp loại không phân biệt các mẫu sinh thiết gan trước và sau điều trị, chứng xơ hoá tiến triển nặng hơn xuất hiện ít hơn ở bệnh nhân dùng Zeffix so với bệnh nhân dùng IFN-a (B3010 : p=0,051) hay điều trị kết hơp Zeffix/IFN-a (AB3011 : p=0,027).
Bình thường hóa ALT : Sự bình thường hóa ALT trong huyết thanh kéo dài xảy ra ở bệnh nhân dùng Zeffix nhiều hơn đáng kể so với IFN-a, kết hơp Zeffix/IFN-a hay placebo.
Tái phát HBV sau khi ghép gan : Khi không điều trị, viêm gan siêu vi B ở những người đươc ghép gan có liên quan đến một tỷ lệ cao đào thải phần ghép và có khả năng đe doa đến tính mạng. Việc sử dụng Zeffix để điều trị hay dự phòng tái phát sau khi ghép đã đươc khảo sát trong các nghiên cứu mở. Nhìn chung, những bệnh nhân này cho đáp ứng virus hoc tương tự như những đáp ứng quan sát đươc ở các bệnh nhân mắc bệnh nhẹ hơn, và nói chung ổn định bệnh và thời gian sống có thể kéo dài hơn.
Đáp ứng với Zeffix đã đươc khảo sát ở những bệnh nhân tái phát HBV sau ghép gan. Phân tích 52 bệnh nhân tham gia nghiên cứu đã hoàn tất điều trị 52 tuần với Zeffix cho thấy rằng 60% có DNA HBV không thể phát hiện đươc qua sự lai giống phân tán (solution hybridisation), 31% bệnh nhân có xét nghiệm dương tính ban đầu đã không còn HBeAg và ALT huyết thanh trở về bình thường ở 29% bệnh nhân. Sau 6 tháng điều trị đầu tiên, 52% bệnh nhân đươc đánh giá là có hoạt tính hoại tử viêm của gan có cải thiện qua đánh giá xếp loại mù, và điểm số HAI cải thiện từ trị trung bình là 10 xuống đến 6,5 (p=0,003).
Một nghiên cứu thứ nhì (A2006) khảo sát xem điều trị với Zeffix có ngăn ngừa đươc tái phát HBV sau khi cấy ghép hay không. Một phân tích trung gian xem xét các đáp ứng của 78 bệnh nhân có HBsAg dương tính đang chờ cấy ghép gan đã dùng Zeffix trước phẫu thuật với 38 người chuẩn bị ghép gan. 38 người đươc ghép đã dùng Zeffix 100 mg mỗi ngày một lần trong khoảng thời gian trung bình là 32 ngày trước khi ghép và ít nhất 6 tháng sau khi ghép. Zeffix đươc dung nạp tốt với rất ít tác dụng ngoại ý đươc xem là có thể hay có khả năng liên quan đến thuốc nghiên cứu.
Sáu tháng sau phẫu thuật, tỷ lệ dương tính HBeAg giảm từ 49% đến 6% ; và tỷ lệ dương tính HBV DNA (bằng cách lai giống phân tán) giảm từ 29% đến 0%. Yếu tố đánh dấu virus giảm trên hầu hết các bệnh nhân có số liệu trong 1 năm sau khi phẫu thuật. Thêm vào đó, bilirubin huyết thanh trung bình, có giá trị là 4,8 mg/dl vào lúc xét nghiệm, đã cải thiện đến 0,9 mg/dl 6 tháng sau khi cấy ghép và vẫn duy trì thấp trong một năm sau.
Zeffix dùng kết hơp với globulin miễn dịch viêm gan B (HBIg) cũng cho thấy làm ngăn ngừa hay làm chậm tái phát HBV sau khi ghép gan trong một nghiên cứu trên 14 bệnh nhân đươc điều trị cả trước và sau khi ghép gan, HBV không đươc phát hiện bằng PCR ở 13 bệnh nhân còn sống sót (1 bệnh nhân đã chết do các nguyên nhân không có liên quan) trong khoảng thời gian trung bình là 346 ngày sau khi ghép. Trung bình 394 ngày sau khi ghép, các giá trị AST, ALT, bilirubin và alkaline phosphatase vẫn trong mức giới hạn bình thường cho 13 người sống sót.
Không phải tất cả bệnh nhân bị bệnh gan tiến triển đều có lơi trong việc điều trị với Zeffix. Trong một vài trường hơp bệnh tiến triển trước khi điều trị, bệnh gan tiến triển không hồi phục đến tình trạng cuối cùng hay các bệnh mắc đồng thời khác ngăn chặn không cho cải thiện trên lâm sàng.
Các nhiễm virus đồng thời : Điều trị lamivudine ở bệnh nhân ở bệnh nhân nhiễm đồng thời HIV và HBV đã đươc nghiên cứu trong các thử nghiệm điều trị HIV. Các thử nghiệm này đã nghiên cứu ảnh hưởng của Epivir (lamivudine 150 mg hai lần mỗi ngày cho điều trị HIV) hơn là của Zeffix (lamivudine 100 mg mỗi ngày một lần cho điều trị viêm gan B).
Một nhóm bệnh nhân nhiễm đồng thời HIV/HBV đã dùng Epivir hai lần mỗi ngày (97 bệnh nhân) hay placebo (25 bệnh nhân) trong 52 tuần. Một vài bệnh nhân trong nhóm điều trị Epivir cũng dùng loviride, một chất ức chế reverse transcriptase non-nucleotide ; tuy nhiên, các số liệu từ tất cả các bệnh nhân dùng Epivir đều đã đươc tồn trữ để so sánh với placebo, do loviride không có hoạt tính trên HBV in vitro.
Vào cuối giai đoạn điều trị 52 tuần, các bệnh nhân đươc điều trị với Epivir giảm 2,7 log trên nồng độ HBV DNA huyết thanh trung bình, so với không thay đổi gì ở nhóm dùng placebo. Nồng độ ALT huyết thanh trung bình có cải thiện từ 74,7 đến 54,7 đơn vị/l trong nhóm Epivir, và có rất ít thay đổi trong nhóm placebo (68,2 – 74,9 đơn vị/l). Thêm vào đó, 22% bệnh nhân trong nhóm Epivir và không có người nào trong nhóm dùng placebo không còn phát hiện đươc HBeAg.
Các kết quả này cũng tương tự như kết quả đươc báo cáo ở nơi khác và gơi ý rằng hoạt tính kháng HBV của lamivudine ở bệnh nhân nhiễm đồng thời HIV cũng tương tự như ở bệnh nhân chỉ nhiễm HBV. Tuy nhiên, cần có nghiên cứu sâu hơn để xác định xem việc giảm virus có dẫn đến sự cải thiện bệnh gan do HBV hay không.
Chưa xác định đươc hiệu quả của Zeffix trong điều trị bệnh nhân viêm gan siêu vi B mãn tính nhiễm đồng thời HCV hay HDV.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Trong các tế bào 2.2.15, Zeffix triphosphate có thời gian bán hủy là 17 – 19 giờ, lâu hơn khoảng 3 giờ so với thời gian bán hủy trong huyết thanh của Zeffix tự do ở người. Sự hiện diện lâu trong tế bào này của Zeffix là do quá trình phosphoryl hóa ngăn chận sự lan tỏa tự do của thuốc ra ngoài tế bào, và có thể có liên quan đến tác dụng kháng virus mạnh tương tự thấy đươc ở người sau liều mỗi ngày một lần so với mỗi ngày hai lần.
Zeffix đươc hấp thu tốt và có độ khả dụng sinh hoc tuyệt đối cho tất cả các dạng uống khoảng 80 – 85%. Điều chỉnh liều chỉ cần thiết cho bệnh nhi và những bệnh nhân bị suy thận trung bình đến nặng.
Độc tính : Zeffix đươc dung nạp tốt trong tất cả các nhóm bệnh nhân đươc nghiên cứu. Trong thử nghiệm lâm sàng pha II và III, không có sự gia tăng tỷ lệ hay thay đổi về bản chất các tác dụng ngoại ý do gia tăng liều lương hay thời gian điều trị. Trong các thử nghiệm lâm sàng, rất hiếm khi phải ngưng điều trị Zeffix do tác dụng ngoại ý.
Tính an toàn tiền lâm sàng : Số liệu tiền lâm sàng thu đươc từ một dãy các test in vitro và trên thú đã xác định tính an toàn tốt của Zeffix trước khi sử dụng trên người. Zeffix đươc dung nạp tốt trong các nghiên cứu độc tính cấp và độc tính với liều lặp lại ở loài gặm nhấm, chó và khỉ đuôi sóc, ở nồng độ trong huyết tương cao hơn đáng kể so với các liều đươc sử dụng sau đó trên lâm sàng. Trong các nghiên cứu ở thú vật này, các tác dụng có liên quan đến điều trị đươc giới hạn ở những thay đổi về huyết hoc (giảm số lương hồng cầu và bạch cầu trung tính), hóa hoc lâm sàng và phân tích nước tiểu.
Zeffix không cho thấy bằng chứng kích ứng mắt và da, hay khả năng nhạy cảm do tiếp xúc trong các khảo sát về tính an toàn ở thú vật. Hơn nữa, với các liều cao hơn nhiều so với liều cần thiết cho hoạt tính kháng virus trên lâm sàng, Zeffix không ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống thần kinh trung ương hay thần kinh tự động cũng như hệ tim mạch hay hô hấp ở chuột cống, mèo hoặc chó.
Tính an toàn trên lâm sàng : Trong các nghiên cứu pha I, tính an toàn và dung nạp cấp tính đã đươc khảo sát sau khi dùng thuốc theo đường uống và tiêm tĩnh mạch liều đơn Zeffix (đến 4 mg/kg) hay liều lặp lại (đến 8 mg/kg/ngày). Chỉ quan sát đươc các tác dụng ngoại ý nhẹ như nhức đầu và buồn nôn, và khó xác định đươc mối liên quan nhân quả đối với thuốc do không có số liệu trên placebo. Không có tác dụng huyết động hoc nào có ý nghĩa trên lâm sàng (huyết áp, nhịp tim), thay đổi trên điện tâm đồ (EKG), hay thay đổi trên các số liệu về tính an toàn trong phòng thí nghiệm. Các liều đơn Zeffix đã đươc dung nạp rất tốt ở những bệnh nhân suy gan hay suy thận.
Trong các nghiên cứu lâm sàng pha III, tỷ lệ tác dụng ngoại ý trong quá trình điều trị cũng tương tự nhau cho các bệnh nhân dùng Zeffix và placebo, và hầu hết đều nhẹ và không đươc xem là có liên quan đến Zeffix. Phân tích các phân nhóm tác dụng ngoại ý đươc xem là có thể liên quan đến thuốc nghiên cứu hay do mối liên hệ không xác định đươc thấy rằng tần số xuất hiện các tác dụng này là tương tự như nhau ở bệnh nhân dùng Zeffix và placebo.
Tỷ lệ tác dụng ngoại ý trong quá trình điều trị ở các nghiên cứu pha III cao hơn đáng kể trên các nhóm điều trị có dùng IFN-a. Tác dụng ngoại ý ở các bệnh nhân dùng IFN-a so với điều trị kết hơp Zeffix/IFN-a cũng tương tự nhau.
Các bất thường xét nghiệm : Bảng sau cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có các bất thường xét nghiệm đặc hiệu tương ứng với điểm độc tính 3 và 4, theo tiêu chuẩn bổ sung của Tổ Chức Y Tế Thế Giới. Trong quá trình điều trị, tỷ lệ bệnh nhân bị các tác dụng ngoại ý này là tương tự nhau cho cả hai nhóm Zeffix và placebo.
Tác dụng ngoại ý trong các nghiên cứu lâm sàng Pha III của Zeffix : Các tác dụng có tỷ lệ ³10% trong quá trình điều trị trong moi nhóm điều trị*.
Tác dụng ngoại ý Tỷ lệ tác dụng ngoại ý (% bệnh nhân)
Placebo (n=200) Zeffix (n=416) IFN-a (n=70) Zeffix + IFN-a (n=139)
Khó ở và mệt mỏi 28 26 70 66
Nhức đầu 21 22 47 63
Nhiễm virus đường hô hấp 17 19 37 29
Buồn nôn và nôn mửa 17 16 34 35
Khó chịu và đau ở bụng 17 15 23 13
Nhiễm khuẩn tai mũi hong 12 14 3 5
Tiêu chảy 12 14 16 16
Nhiễm virus tai mũi hong 11 11 6 7
Đau hong và amiđan 8 11 7 6
Ho 9 10 13 9
Đau cơ xương 10 8 11 17
Đau cơ 9 8 40 34
Sốt 9 7 43 54
Chóng mặt 7 7 19 9
Rối loạn giấc ngủ 6 7 6 11
Nồng độ enzyme bất thường 6 7 13 6
Bất thường xét nghiệm chức năng gan 6 6 14 9
Đau cơ và thấp khớp 5 6 23 14
Nổi ban da 5 5 10 6
Rối loạn trầm cảm 5 4 13 11
Có vấn đề về ăn uống 5 3 33 27
Rụng lông tóc 3 3 23 29
Có vấn đề về thể trong 2 2 16 6
Giảm bạch cầu < 1 1 26 17
Thiếu hụt lương tiểu cầu < 1 < 1 13 5
* Số liệu của IFN-a và kết hơp IFN-a/Zeffix lấy từ nghiên cứu 24 tuần B3010 và AB3011 trong thời gian đó điều trị đã kết thúc cho các nhóm này.Số liệu của Zeffix và placebo lấy từ giai đoạn 52 đến 68 tuần điều trị Zeffix của nghiên cứu B3009, A3010, B3010 và AB3011.
Gia tăng ALT sau điều trị : Sự sao chép HBV và ALT trong huyết thanh thường trở về mức độ trước khi điều trị nếu ngưng dùng Zeffix trước khi có đáp ứng kháng thể HBeAg. Ít khi bệnh nhân ngưng Zeffix bị tăng ALT huyết thanh sau điều trị với mức độ vươt quá nồng độ trước khi điều trị.
Tỷ lệ gia tăng ALT sau khi điều trị ³2 x giá trị bắt đầu cũng tương tự nhau trong số những bệnh nhân dùng Zeffix, IFN-a hay kết hơp IFN-a/Zeffix và chỉ hơi cao hơn so với ở những bệnh nhân dùng placebo. Điều này gơi ý rằng nhiều sự gia tăng nhẹ ALT sau điều trị thấy đươc trong các nghiên cứu này có thể liên quan đến tình trạng dao động bệnh tự nhiên hơn là do điều trị đươc nhận.
So với những bệnh nhân đươc điều trị placebo, những bệnh nhân dùng Zeffix có tỷ lệ hơi cao hơn về tăng ALT ³3 x giá trị bắt đầu (tương ứng với 3 điểm độc tính) và các trường hơp tăng ALT ³2 x giá trị bắt đầu, gắn liều với giá trị ALT tuyệt đối > 500 IU/l. Tuy nhiên, có các tỷ lệ thấp hơn tương tự bệnh nhân đã dùng Zeffix hay placebo bị tăng ALT sau điều trị đi kèm với các tác dụng ngoại ý lâm sàng trầm trong, tăng bilirubin hay các dấu hiệu khác của suy gan. Trong thực tế, việc kiểm soát ALT có thể giúp phát hiện dễ dàng hơn các phản ứng này nếu Zeffix đươc ngưng dùng trước khi có đáp ứng kháng thể HBeAg ; việc kiểm tra này có thể đặc biệt có giá trị đối với những bệnh nhân bị viêm gan tiến triển có dự trữ gan giảm.
Các dân số bệnh nhân đặc biệt : Tính an toàn của Zeffix đã đươc xem xét trên vài tiểu nhóm dân số bệnh nhân bị viêm gan siêu vi B mãn tính, bao gồm những bệnh nhi và những người bị xơ gan, bệnh gan mất bù và nhiễm HBV đột biến. Tỷ lệ toàn phần tác dụng ngoại ý có thể quy cho Zeffix cũng tương tự nhau cho tất cả các nhóm. Do đó, không có bằng chứng lo ngại về tính an toàn của Zeffix đặc hiệu cho các phân nhóm bệnh nhân này.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính ở bệnh nhân có bằng chứng sao chép HBV.
CÁCH DÙNG: Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi :
Liều khuyến cáo : 100 mg, mổi ngày một lần. Nên ngưng dùng Zeffix ở bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch bình thường khi xảy ra sự chuyển dạng HbeAg và/hoặc HbsAg trong huyết thanh (seroconvertion).
Trẻ em dưới 12 tuổi :
3 mg/kg, mỗi ngày một lần (tối đa 100 mg/ngày).
Bệnh nhân suy thận < 50 ml/phút : giảm liều.
TÁC DỤNG PHỤ: THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Sau khi ngưng dùng lamivudine, bệnh nhân có thể bị tái phát viêm gan siêu vi B mãn tính, điều này có thể gây hậu quả nghiêm trong hơn ở bệnh nhân bị bệnh gan mất bù. Nên theo dõi định kỳ trên lâm sàng và đánh giá thử nghiệm chức năng gan trong huyết thanh (nồng độ ALT và bilirubin) trong tối thiểu 4 tháng để tìm bằng chứng viêm gan siêu vi tái phát. Nên duy trì liều lamivudine 150 mg x 2 lần/ngày ở bệnh nhân nhiễm HIV đồng thời, đang dùng hay có kế hoạch dùng Epivir (lamivudine) hay Combivir (lamivudine/zidovudine). Nên thận trong cho phụ nữ có thai và nuôi con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Zeffix đươc đào thải qua thận bởi sự tiết cation hữu cơ hoạt động. Các thuốc đươc đào thải qua đường này, đặc biệt là những trường hơp có chỉ số điều trị thấp, có thể bị tương tác thuốc với Zeffix.
Trimethoprime, một thành phần của cotrimoxazole làm tăng 40% nồng độ lamivudine huyết tương. Tuy nhiên, điều này đươc xem là không có ý nghĩa trên lâm sàng và không cần phải chỉnh liều trừ phi bệnh nhân đã có suy thận.
Không quan sát đươc tương tác dươc động đáng kể nào với zidovudine hay IFN-a.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Khó ở, mệt mỏi, nhiễm trùng đường hô hấp, nhức đầu, khó chịu và đau ở bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy. Các trường hơp nhiễm acid lactic thường liên quan đến chứng gan to và thoái hóa mỡ tại gan đươc báo cáo là có liên quan đến việc dùng phối hơp điều trị nucleoside đồng đẳng ở bệnh nhân nhiễm HIV.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Quá mẫn với thuốc.

Leave a Reply