Topamax

TopamaxHÃNG SẢN XUẤT: Cilag
NHÓM THUỐC: Thần kinh
THÀNH PHẦN: viên nén 50 mg : hộp 60 viên.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên nén
Topiramate 50 mg
DƯỢC LƯC
Topiramate là một chất mới chống động kinh đươc phân loại như là monosaccharide đươc thay thế gốc sulfamate. Các nghiên cứu sinh hóa và điện sinh lý trên các neuron đươc nuôi cấy có xác định 3 đặc tính có thể góp phần vào hiệu quả chống động kinh của topiramate.
Các thế hoạt động đươc lặp đi lặp lại bởi sự khử cực kéo dài của neuron bị chẹn bởi topiramate trong kiểu lệ thuộc thời gian, dẫn đến tác động chẹn kênh natri lệ thuộc tình trạng. Topiramate làm tăng tần suất mà tại đó các receptor GABAA đươc hoạt hóa bởi g-aminobutyrate (GABA), và làm tăng khả năng của GABAA để tạo ra luồng ion chloride đến các neuron, cho thấy rằng topiramate làm tăng hoạt tính của các chất trung gian thần kinh ức chế.
Tác động này không bị ức chế bởi flumazenil, một chất đối kháng với benzodiazepine, và topiramate cũng không làm tăng thời gian mở kênh, khác biệt giữa topiramate và các barbiturate là điều chỉnh thụ thể GABAA.
Vì đặc tính chống động kinh của topiramate khác biệt hoàn toàn với tính chất của các benzodiazepine, nên topiramate có thể điều chỉnh một “dưới nhóm” của thụ thể GABAA kém nhạy cảm với benzodiazepine.
Ngoài ra, topiramate ức chế một vài isoenzyme của anhydrase carbonic. Tác dụng dươc lý này của topiramate yếu hơn nhiều so với tác dụng của acetazolamide, là chất ức chế anhydrase carbonic quen biết, và không đươc cho là một cơ chế chính của hoạt tính chống động kinh của topiramate.
Nghiên cứu trên súc vật, topiramate có hoạt tính chống co giật ở chuột cống và chuột nhắt trong các thử nghiệm lên cơn bằng sốc điện tối đa (MSE) và có hiệu quả trong các loài gặm nhấm bị chứng động kinh, bao gồm động kinh có và không có trương cơ trong chuột cống bị động kinh tự phát (SER) và các cơn động kinh tonic và clonic trong các chuột cống bởi sự kích thích hạch amidan và bởi sự thiếu máu toàn thể. Topiramate chỉ có tác dụng yếu trong cơn động kinh ức chế clonic do tác động của chất đối kháng của recepter GABAA là pentyleneterrazole.
Nghiên cứu trên chuột nhắt dùng đồng thời topiramate và carbamazepine hoặc phenobarbital cho thấy tác dụng chống co giật là hiệp đồng, trong khi kết hơp với phenytoin chỉ cho thấy có hoạt tính chống co giật có tác dụng cộng. Trong các thử nghiệm lâm sàng, dùng topiramate như hỗ trơ có đối chứng, không có mối tương quan nào giữa nồng độ của topiramate trong huyết tương với hiệu quả lâm sàng của thuốc này. Không có bằng chứng về sự dung nạp ở người.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Đặc tính dươc động hoc của topiramate khi so sánh với các thuốc chống động kinh khác cho thấy topiramate có thời gian bán thải trong huyết tương dài, dươc động hoc tuyến tính, phần lớn là thanh thải ở thận, không có gắn kết đáng kể với protein và thiếu các chất chuyến hóa có hoạt tính tương đương về lâm sàng.
Topiramate không bị ảnh hưởng bởi các enzyme chuyển hóa thuốc, có thể dùng mà không cần quan tâm đến bữa ăn, và không cần phải kiểm tra định kỳ nồng độ của topiramate trong huyết tương. Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có mối quan hệ rõ rệt nào giữa nồng độ của thuốc trong huyết tương với hiệu quả của thuốc hoặc tác dụng phụ.
Topiramate hấp thu tốt và nhanh. Sau khi uống 100mg topiramate, người khỏe mạnh có nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương (Cmax) là 1,5 mg/ml đạt đươc trong vòng 2 đến 3 giờ (Tmax). Dựa trên sự thu hồi lại hoạt tính phóng xạ từ nước tiểu, thấy phạm vi hấp thu trung bình của 100 mg liều uống của 14C-topiramate là ít nhất 81%. Thức ăn không có tác động đáng kể về mặt lâm sàng trên khả dụng sinh hoc của topiramate. Nói chung, có khoảng 13-17% topiramate gắn kết với protein huyết tương. Nhận thấy vị trí gắn kết có khả năng thấp cho topiramate trong trên hồng cầu và có thể bão hòa với nồng độ trong huyết tương 4mg/ml. Thể tích phân bố biến đổi tỉ lệ nghịch với liều dùng. Thể tích biểu kiến trung bình của sự phân bố thuốc là 0,08-0,55 l/kg khi dùng liều duy nhất từ 100-1200 mg. Người ta phát hiện thấy giới tính tác động đến thể tích phân bố của thuốc, giá trị đối với nữ giới khoảng 50% so với của nam giới. Điều này đươc cho là do % chất béo trong cơ thể của bệnh nhân nữ cao hơn và điều này không có ý nghĩa lâm sàng.
Topiramate không đươc chuyển hóa mạnh (khoảng 20%) ở người tình nguyện khỏe mạnh. Topiramate đươc chuyển hóa đến 5% ở những bệnh nhân dùng đồng thời với các thuốc chống động kinh là những chất gây cảm ứng các enzyme chuyển hóa thuốc. Sáu chất chuyển hóa, hình thành qua sự hydroxyl hóa, thủy phân và glucuro- liên hơp đã đươc cô lập, định tính từ huyết tương, nước tiểu và phân. Mỗi chất chuyển hóa có mặt dưới 3% của tổng số hoạt tính phóng xạ bài tiết sau khi dùng 14C-topiramate. Hai chất chuyển hóa gần như vẫn còn giữ cấu trúc của topiramate đươc thử nghiệm và nhận thấy còn một ít hay không có hoạt tính chống co giật.
Ở người, đường thải trừ chính của topiramate dạng không đổi và các chất chuyển hóa của nó là qua thận (ít nhất là 81% của liều dùng). Khoảng 66% của liều dùng 14C-topiramate đươc bài tiết dưới dạng không đổi ở thận trong vòng 4 ngày. Sau khi dùng liều 50 mg và 100 mg topiramate x 2 lần/ngày, sự thanh thải ở thận trung bình là khoảng 18 ml/phút (dùng liều 50 mg) và 17 ml/phút (dùng liều 100 mg). Cũng nhận thấy có sự tái hấp thu qua ống thận của topiramate. Điều này đươc chứng minh bởi nghiên cứu ở chuột cống đươc dùng đồng thời topiramate và probenecid, và có sự tăng đáng kể sự thanh thải thận của topiramate. Nói chung, sự thanh thải huyết tương khoảng 20-30 ml/phút ở người sau khi uống topiramate.
Topiramate cho thấy hay có sự thay đổi nồng độ trong huyết tương tùy theo từng người bệnh và vì vậy có thể đoán trước đươc dươc động hoc. Dươc động hoc của topiramate tuyến tính với sự thanh thải của huyết tương duy trì không đổi và diện tích dưới đường cong tăng tỉ lệ với liều trên 100-400 mg giới hạn liều duy nhất ở người khỏe mạnh. Người bệnh có chức năng thận bình thường có thể mất 4-8 ngày để đạt đươc nồng độ trong huyết tương ở trạng thái bão hòa. C max trung bình là 6,76 mg/ml sau khi dùng liều uống gấp đôi 100 mg x 2 lần/ngày ở người khỏe mạnh. Sau khi dùng liều gấp đôi của 50 mg và 100 mg x 2 lần/ngày, thì thời gian bán thải trung bình trong huyết tương là khoảng 21 giờ.
Liều dùng gấp đôi của topiramate từ 100-400 mg x 2 lần/ngày dùng đồng thời với phenytoin hoặc carbamazepine cho thấy nồng độ trong huyết tương của topiramate tăng tỉ lệ với liều.
Sự thanh thải ở thận và huyết tương của topiramate giảm ở những bệnh nhân bị suy thận (thanh thải creatinin <= 60 ml/phút) và sự thanh thải trong huyết tương giảm ở những bệnh nhân bị bệnh thận ở giai đoạn cuối. Vì vậy, nồng độ trong huyết tương ở trạng thái bão hòa của topiramate khi dùng liều như đã cho ở những bệnh nhân suy thận sẽ cao hơn ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Topiramate đươc bài xuất hoàn toàn khỏi huyết tương bởi thẩm tách máu.
Sự thanh thải trong huyết tương của topiramate giảm ở những bệnh nhân bị suy gan từ trung bình đến nặng.
Sự thanh thải trong huyết tương của topiramate không bị thay đổi ở những người lớn tuổi không có bệnh thận.
Dươc động hoc ở trẻ em đến 12 tuổi :
Dươc động hoc của topiramate ở trẻ em là tuyến tính giống như ở người lớn khi điều trị hỗ trơ, với sự thanh thải phụ thuộc liều và các nồng độ trong huyết tương ở trạng thái bão hòa tăng tỉ lệ với liều. Tuy nhiên, ở trẻ em có sự thanh thải cao hơn và thời gian bán thải cao hơn ở người lớn. Vì vậy, nồng độ của topiramate trong huyết tương khi dùng cùng một liều tính theo mg/kg có thể thấp hơn ở trẻ so với ở người lớn. Cũng như ở người lớn, enzyme gan làm giảm nồng độ trong huyết tương của các thuốc chống động kinh.
AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Dùng topiramate trong thời gian ngắn và dài ở chuột nhắt, chuột cống, chó, và thỏ cho thấy topiramate dung nạp tốt. Quan sát thấy sự tăng sinh các tế bào biểu mô ở dạ dày ở các loài gặm nhấm và chuột cống có thể bị hủy bỏ sau khi ngừng điều trị 9 tuần.
Các khối u của cơ trơn bắt đầu từ bàng quang chỉ đươc nhìn thấy ở chuột nhắt (khi uống 300 mg/kg trong 21 tháng) và chỉ xuất hiện với loại này. Vì không có sự giống hệt giữa người này với người khác, nên không có sự tương đương về lâm sàng. Không có phát hiện như vậy trong nghiên cứu tính chất sinh ung thư ở chuột cống (khi dùng liều uống đến 120 mg/kg/ngày trong 24 tháng). Các tác động của topiramate về độc tính và bệnh hoc trong các nghiên cứu này có lẽ có liên quan đến việc gây cảm ứng enzyme chuyển hóa thuốc yếu hoặc ức chế anhydrase carbonic yếu.
Mặc dầu ở liều thấp 8 mg/kg/ngày gây độc tính trên chuột cống bố và chuột mẹ, nhưng không quan sát thấy ảnh hưởng trên khả năng sinh sản ở chuột cống đực và cái ở liều lên đến 100 mg/kg/ngày.
Giống như các thuốc chống động kinh khác, topiramate gây quái thai ở chuột nhắt, chuột cống và ở thỏ. Ở chuột nhắt, trong lương của bào thai và sự cốt hóa xương giảm ở liều 500 mg/kg/ngày song song cùng với độc tính trên chuột mẹ. Nói chung, con số bào thai dị tật tăng ở chuột nhắt trong tất cả các nhóm dùng thuốc (20, 100 và 500 mg/kg/ngày), nhưng không thấy sự khác biệt đáng kể hoặc các liên quan đáp ứng về liều lương trong toàn bộ hoặc dị tật chuyên biệt, điều này cho thấy rằng các yếu tố khác, như là độc tính trên chuột mẹ, có thể tham gia vào cơ chế quái thai.
Ở chuột cống, độc tính trên phôi/bào thai và trên chuột mẹ có liên quan với liều (giảm trong lương bào thai và/ hoặc sự cốt hóa xương) đươc thấy ở liều thấp đến 20 mg/kg/ngày, với tác động gây quái thai (tật ở nón tay, chân và chi) ở liều 400 mg/kg/ngày và liều lương cao hơn. Ở thỏ, độc tính ở thỏ liên quan với liều lương đươc ghi nhận ở liều thấp tới 10 mg/kg/ngày, độc tính trên phôi thai/bào thai (tử vong tăng) ở liều thấp đến 35 mg/kg/ngày, và tác động gây quái thai (dị tật ở đốt sống và xương sườn) ở liều 120 mg/kg/ngày.
Tác động gây quái thai ở chuột cống và ở thỏ thì giống nhau so với những điều đươc gặp với sự ức chế anhydrase carbonic, mà không gây dị tật ở người. Các tác động trên sự tăng trưởng cũng đươc cho thấy bởi trong lương khi sinh thấp và trong suốt giai đoạn cho chuột con bú của chuột cống mẹ đươc cho dùng thuốc ở liều 20 hoặc 100 mg/kg/ngày trong suốt giai đoạn thai kỳ và cho con bú. Ở chuột cống, topiramate qua đươc hàng rào nhau thai.
Nghiên cứu in vivo và in vitro định lương đột biến gen, topiramate không có tiềm năng gây đột biến gen.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Điều trị đơn độc (monotherapy) hoặc điều trị hỗ trơ cho người lớn hay trẻ em có những cơn động kinh khởi phát cục bộ hoặc có những cơn động kinh toàn thể có co cứng – giật rung.
Để điều trị hỗ trơ ở người lớn và trẻ em bị những cơn động kinh có kèm hội chứng Lennox Gestaut.
CÁCH DÙNG: Tổng quát :
Để chữa cơn động kinh một cách tối ưu ở cả người lớn và trẻ em, nên khởi đầu liều thấp và chuẩn liều để đạt đươc mức liều có hiệu quả.
Topamax ở dạng viên nén. Viên nén không đươc bẻ ra khi dùng.
Có thể uống Topamax mà không cần quan tâm đến việc uống trước, sau hay trong khi dùng bữa.
Điều trị hỗ trơ – người lớn :
Nên khởi đầu với liều 25-50 mg vào ban đêm, dùng trong một tuần. Sau đó, hàng tuần hoặc cách hai tuần, nên tăng liều lên 25-50 mg/ ngày và liều đươc chia làm hai lần uống. Việc chuẩn liều nên đươc hướng dẫn bởi thầy thuốc chuyên khoa. Vài bệnh nhân có thể đạt hiệu quả điều trị bởi liều uống một lần trong ngày.
Trong các thử nghiệm lâm sàng khi điều trị hỗ trơ, mức liều 200 mg là có hiệu quả và là liều thấp nhất đươc nghiên cứu. Vì vậy, liều này có thể đươc xem như là liều đạt hiệu quả tối thiểu. Liều dùng thông thường hàng ngày là 200-400 mg, chia làm hai lần. Một bệnh nhân có thể dùng đươc liều cao 1600 mg/ngày.
Các khuyến cáo dùng liều này áp dụng cho tất cả các người lớn, kể cả người cao tuổi khi không có bệnh cơ bản về thận (xem Chú ý đề phòng và Thận trong lúc dùng).
Điều trị hỗ trơ – trẻ em từ 2 tuổi trở lên :
Liều tổng cộng dùng hàng ngày của Topamax khi điều trị hỗ trơ đươc khuyến cáo khoảng 5-9 mg/kg/ngày, chia làm hai lần. Việc chuẩn liều nên đươc khởi đầu bằng 25 mg (hoặc thấp hơn, dựa trên giới hạn liều từ 1-3 mg/kg/ngày), uống vào ban đêm trong tuần đầu tiên. Để có đươc đáp ứng lâm sàng tối ưu, liều nên đươc tăng sau đó 1 hoặc 2 tuần trong giới hạn khoảng 1-3 mg/kg/ngày (chia làm hai lần uống). Việc chuẩn liều nên đươc hướng dẫn bởi thầy thuốc chuyên khoa.
Liều dùng hàng ngày lên đến 30 mg/kg/ngày đã đươc nghiên cứu và nói chung đươc dung nạp tốt.
Điều trị đơn độc (monotherapy) – Tổng quát :
Khi ngừng dùng đồng thời các thuốc chống động kinh (AED) để đạt đươc sự điều trị đơn độc bằng topiramate, nên đươc xem xét đến hiệu quả có thể có trên sự kiểm soát cơn động kinh. Trừ khi liên quan về an toàn mà yêu cầu ngừng dùng đồng thới AED, thì khuyến cáo là nên giảm từ từ, khoảng 1/3 liều AED mỗi 2 tuần.
Khi ngừng dùng các thuốc gây cảm ứng enzym, thì nồng độ của topiramate sẽ tăng. Nếu có chỉ định lâm sàng, thì nên giảm liều Topamax.
Điều trị đơn độc (monotherapy) – người lớn :
Nên khởi đầu bằng liều 25 mg dùng ban đêm trong một tuần. Nên tăng liều trong thời gian khoảng 1 hoặc 2 tuần sau đó, bằng cách tăng 25 hoặc 50 mg/ngày, chia làm hai lần uống. Nếu như bệnh nhân không thể dung nạp với chế độ chuẩn liều như vậy, thì nên tăng liều với một mức liều thấp hơn hoặc kéo dài hơn khoảng thời gian giữa các lần tăng liều. Thầy thuốc chuyên khoa nên hướng dẫn bệnh nhân dùng liều và chuẩn liều.
Giới hạn liều đầu đạt mục tiêu của topiramate ở người lớn trong điều trị đơn độc bằng topiramate đươc khuyến cáo từ 100-200 mg/ngày và liều tối đa dùng hàng ngày đươc khuyến cáo là 500 mg. Vài người bệnh động kinh dạng khó chữa có dung nạp topiramate trong điều trị đơn độc (monotherapy) tại liều 1000 mg/ngày. Các khuyến cáo dùng liều này đươc áp dụng cho tất cả người lớn, kể cả người cao tuổi không mắc bệnh về thận.
Điều trị đơn độc (monotherapy) – trẻ em :
Trẻ em từ 2 tuổi trở lên nên bắt đầu với liều từ 1-3 mg/kg vào buổi tối, trong một tuần đầu. Liều nên tăng 1 hoặc 2 tuần sau đó, ở giới hạn khoảng 1-3 mg/kg/ngày và chia làm hai lần uống. Nếu như trẻ không thể dung nạp với chế độ chuẩn liều trên, thì nên tăng liều thấp hơn hoặc kéo dài thời gian giữa các lần tăng liều. Việc dùng thuốc và chuẩn liều nên đươc sự hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa.
Giới hạn liều khởi đầu đạt mục tiêu của topiramate ở trẻ em từ 2 tuổi trở lên trong điều trị đơn độc (monotherapy) bằng topiramate đươc khuyến cáo từ 3-6 mg/kg/ngày. Gần đây, trẻ em đươc chuẩn đoán bị cơn động kinh khởi phát cục bộ có dùng liều lên đến 500 mg/ngày.
QUÁ LIỀU
Trong trường hơp quá liều cấp tính khi dùng Topamax, nếu như mới vừa uống thuốc, phải làm rỗng dạ dày ngay lập tức bằng cách rửa hoặc gây nôn. Điều trị hỗ trơ khi thích hơp. Thẩm tách máu là phương tiện hữu hiệu để loại topiramate khỏi cơ thể. Tuy nhiên, trong những trường hơp quá liều cấp, kể cả liều trên 20 g trong một bệnh nhân, thì thẩm tách máu không cần thiết.
BẢO QUẢN
Bảo quản ở nhiệt độ <= 25oC (77oF) và chống ẩm.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Các thuốc chống động kinh, kể cả Topamax, nên ngừng dần dần để giảm tối thiểu tiềm năng tăng tần suất của cơn động kinh. Trong các thử nghiệm lâm sàng ở người lớn, liều dùng đươc giảm hàng tuần 100 mg/ngày. Ở vài bệnh nhân, việc ngừng đột ngột không xảy ra biến chứng nào.
Đường thải trừ chủ yếu của topiramate dạng không đổi và các chất chuyển hóa của nó là qua thận. Sự thải trừ qua thận phụ thuộc chức năng của thận và không phụ thuộc vào tuổi tác. Những bệnh nhân bị suy thận ở mức độ từ trung bình đến trầm trong có thể dùng thuốc từ 10 đến 15 ngày để thuốc đạt nồng độ trong huyết tương ở trạng thái bão hòa trong khi ở người bệnh có chức năng thận bình thường có thể dùng thuốc chỉ từ 4 đến 8 ngày.
Vì với tất cả các bệnh nhân, thời hạn chuẩn liều nên theo sự hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa (tức là kiểm tra cơn động kinh, tránh các tác dụng ngoại ý) nếu người bệnh đươc biết có suy thận có thể yêu cầu một thời gian dài hơn để thuốc đạt đươc nồng độ ở trạng thái bão hòa tại mỗi liều.
Ở vài người bệnh, đặc biệt là những người dễ bị sỏi thận, có thể tăng nguy cơ hình thành sỏi thận. Người bệnh nên uống nhiều nước để làm giảm nguy cơ này.
Bệnh sỏi thận :
Các yếu tố nguy cơ cho bệnh sỏi thận gồm : hình thành sỏi trước đó, tiền sử gia đình có bệnh sỏi thận và tăng canxi niệu. Các yếu tố nguy cơ này không thể dự đoán đáng tin cậy việc hình thành sỏi là do trong khi điều trị topiramate. Ngoài ra, các bệnh nhân đang dùng thuốc khác có thể gây sỏi thận thì nguy cơ có thể tăng.
Suy giảm chức năng gan :
Ở người suy gan, topiramate nên đươc dùng thận trong vì sự thanh thải của topiramate có thể bị giảm.
Bổ sung chất dinh dưỡng :
Có thể xem xét việc bổ sung chế độ ăn, nếu bệnh nhân giảm cân trong khi dùng thuốc này.
Lái xe và vận hành máy móc :
Giống như thuốc chống động kinh khác, Topamax tác động trên hệ thần kinh trung ương, có thể gây buồn ngủ, chống mặt và các triệu chứng liên quan khác. Các tác dụng ngoại ý từ nhẹ đến trung bình này có thể gây nguy hiểm cho người bệnh khi lái xe hay vận hành máy móc, đặc biệt cho đến khi kinh nghiệm dùng thuốc trong từng bệnh nhân đươc thiết lập.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Như các thuốc chống động kinh khác, topiramate gây quái thai trên chuột nhắt, chuột cống, và trên thỏ. Ở chuột cống, topiramate qua hàng rào nhau thai.
Chưa có nghiên cứu dùng topiramate ở người mang thai. Tuy nhiên, Topamax chỉ nên dùng cho phụ nữ mang thai nếu như lơi ích trị liệu vươt cao hơn nguy cơ xảy ra độc tính.
Topiramate bài tiết qua sữa chuột cống đang cho con bú. Chưa biết topiramate có đươc bài tiết qua sữa mẹ hay không. Vì nhiều thuốc đươc bài tiết qua sữa mẹ, nên cần quyết định là ngừng dùng thuốc hay ngừng cho con bú, chú ý tầm quan trong của thuốc đối với người mẹ.
Theo kinh nghiệm sau khi đưa ra thị trường, trường hơp bệnh lỗ tiểu lệch thấp đươc báo cáo xảy ra ở nhũ nhi nam tiếp xúc với topiramate khi còn nằm trong tử cung, có hay không có dùng các thuốc co giật khác. Tuy nhiên, nguyên nhân liên quan đến topiramate chưa đươc thiết lập.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Tác động của Topamax với các thuốc chống động kinh khác :
Việc dùng chung Topamax với các thuốc chống động kinh khác (phenytoin, carbamazepine, acid valproic, phenobarbital, primidone) không có tác động trên nồng độ của các thuốc này trong huyết tương ở trạng thái bão hòa. Ngoại trừ ở vài bệnh nhân, việc dùng chung Topamax với phenytoin có thể làm tăng nồng độ của phenytoin trong huyết tương. Điều này có thể là do sự ức chế enzym Cytochrom P450 (loại dưới nhóm CYP 2Cmeph). Vì vậy, bất cứ người bệnh nào đang dùng phenytoin có những dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng của độc tính thuốc, thì nên kiểm tra nồng độ của phenytoin.
Tác động của các thuốc chống động kinh khác trên Topamax :
Phenytoin và carbamazepin làm giảm nồng độ huyết tương của Topamax. Cần điều chỉnh liều dùng của Topamax khi ngừng dùng hoặc dùng chung phenytoin hoặc carbamazenpine với Topamax khi điều trị. Nên tiến hành chuẩn liều để có đươc hiệu quả lâm sàng. Dùng chung hoặc ngừng dùng acid valproic không làm thay đổi đáng kể về mặt lâm sàng nồng độ trong huyết tương của Topamax và do đó, không cần điều chỉnh liều dùng của Topamax.
Kết quả của những tương tác này đươc tóm tắt như sau :
Các thuốc chống động kinh khác đươc dùng phối hơp với topiramate Nồng độ của thuốc chống động kinh Nồng độ của topiramate
Phenytoin nói chung không ảnh hưởng tới nồng độ trong huyết tương*, tăng trong một số trường hơp nồng độ trong huyết tương giảm
Carbamazepine không ảnh hưởng tới nồng độ trong huyết tương* nồng độ trong huyết tương giảm
Acid valproic không ảnh hưởng tới nồng độ trong huyết tương* không ảnh hưởng tới nồng độ trong huyết tương*
Phenobarbital không ảnh hưởng tới nồng độ trong huyết tương* không nghiên cứu
Primidone không ảnh hưởng tới nồng độ trong huyết tương* không nghiên cứu
* thay đổi dưới 15%.
Các tương tác thuốc khác :
Digoxin : Trong nghiên cứu liều duy nhất, diện tích dưới đường cong (AUC) của nồng độ digoxin trong huyết tương giảm 12% khi dùng đồng thời với Topamax. Tương quan về mặt lâm sàng của quan sát này chưa đươc thiết lập. Khi ngừng dùng Topamax hoặc dùng chung Topamax ở những người bệnh đang dùng digoxin, cần chú ý kiểm tra thường kỳ digoxin trong huyết thanh.
Các thuốc ngừa thai đường uống : trong nghiên cứu tương tác dươc động hoc với các thuốc ngừa thai đường uống chứa norethindrone uống, thanh thải trong huyết tương của thành phần estrogenic tăng đáng kể. Do đó, hiệu quả của thuốc ngừa thai đường uống dùng liều thấp (ví dụ : 20 mg) có thể bị giảm trong trường hơp này, với người bệnh đang dùng thuốc ngừa thai uống, nên thông báo cho thầy thuốc bất cứ thay đổi nào về công thức máu.
Các thuốc khác : Topamax khi dùng đồng thời với các thuốc gây sỏi thận thì có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi thận. Trong khi dùng Topamax, nên tránh dùng các này vì chúng có thể tăng môi trường sinh lý, làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Vì Topamax thường xuyên đươc dùng với các thuốc động kinh khác, khó có thể xác nhận rằng thuốc nào gây nên tác dụng ngoại ý.
Điều trị hỗ trơ - Ở người lớn :
Trong các thử nghiệm lâm sàng mù đôi, vài thử nghiệm trong số này có giai đoạn chuẩn liều nhanh, các tác dụng ngoại ý xảy ra với tần suất >= 5% và xảy ra ở một tỉ lệ cao ở những người lớn tuổi điều trị topiramate hơn là trong nhóm dùng giả dươc (placebo) : buồn ngủ, chóng mặt, lo âu, mất điều hòa, chứng biếng ăn, mệt mỏi, rối loạn ngôn ngữ và các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ, chậm tâm thần vận động, thị giác bất thường, khó nhớ, nhầm lẫn, dị cảm, nhìn đôi, chán ăn, rung giật nhãn cầu, buồn nôn, giảm cân, khó tập trung/ chú ý, suy nhươc cơ thể, đau bụng, các vấn đề về tính tình.
Các tác dụng ngoại ý xảy ra với tần suất thấp, nhưng đươc xem là có liên quan đến thuốc : không nhận thức đúng mùi vị, kích động, các vấn đề về nhận thức, dễ xúc động, các vấn đề kết hơp, dáng đi bất thường, vô cảm, các triệu chứng rối loạn tâm thần/ chứng loạn thần, hành vi/ phản ứng hung hăng, giảm bạch cầu, sỏi thận. Có gặp một số trường hơp bệnh huyết khối tắc mạch, mặc dầu nguyên nhân liên quan đến thuốc chưa đươc thiết lập.
Điều trị hỗ trơ – Bệnh nhi :
Trong thử nghiệm lâm sàng mù đôi, các tác dụng phụ xảy ra với tần suất >= 5% và xảy ra với một tỷ lệ cao ở những bệnh nhi có điều trị topiramate hơn là ở trong nhóm dùng giả dươc (placebo), bao gồm : buồn ngủ, biếng ăn, mệt mỏi, lo âu, rối loạn nhân cách, khó tập trung/ chú ý, phản ứng quá khích, giảm cân, đi đứng bất thường, có vấn đề về tâm tính, mất điều hòa, tăng tuyến nước bot, buồn nôn, khó nhớ, tăng động, buồn ngủ, rối loạn ngôn ngữ và các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ, dị cảm.
Các tác dụng ngoại ý xảy ra với tần suất thấp, nhưng đươc xem là có liên quan đến thuốc là : dễ xúc động, kích động, vô cảm, các vấn đề liên quan đến nhận thức, chậm tâm thần vận động, nhầm lẫn, ảo giác, trầm cảm và giảm bạch cầu.
Điều trị đơn độc một thuốc (monotheraphy) – Tất cả các bệnh nhân :
Trong thử nghiệm mù đôi, các tác dụng phụ xảy ra với tần suất >= 10% trong cả hai nhóm dùng giả dươc (placebo) và chỉ dùng topiramate bao gồm : dị cảm, đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, buồn ngủ, giảm cân, buồn nôn, và tiêu chảy. Các triệu chứng khi điều trị đơn độc một thuốc (monotherapy) này giống với khi điều trị hỗ trơ.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Tăng nhạy cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.

Leave a Reply