Taxol

Taxol 5mlHÃNG SẢN XUẤT: Briston – Myers Squi
NHÓM THUỐC: Ung thư
THÀNH PHẦN: dung dịch dùng để pha tiêm truyền tĩnh mạch 30 mg/5 ml : lo đơn liều 5 ml, hộp 1 lo – Bảng A.
THÀNH PHẦN
cho 1 lo
Paclitaxel 30 mg
Tá dươc : huile de ricin polyoxyethylene (Crémophor EL), ethanol.
DƯỢC LƯC
Chống ung thư, điều chỉnh đáp ứng miễn dịch, kìm tế bào.
Paclitaxel là một tác nhân mới ức chế sự phân rã mạng lưới vi thể của thoi nhiễm sắc ; nó kích thích quá trình ghép các dimer của vi ống thành mạng lưới vi thể và ổn định mạng lưới vi thể bằng cách ngăn chặn quá trình tháo xoắn của chúng. Tính ổn định này ức chế sự tái tổ chức năng lương bình thường của mạng lưới vi thể, một hiện tương chủ yếu của chức năng sống của tế bào trong tiến trình gian kỳ và gián phân.
Ngoài ra, paclitaxel còn gây sự hình thành không bình thường các nhóm hay bó của mạng lưới vi thể trong suốt chu kỳ của tế bào, và tổ chức quá trình phân chia thể sao của mạng lưới vi thể trong sự gián phân.
Sự dung nạp và hiệu lực của Taxol (135 mg/m2 trong 24 giờ), sau đó dùng cisplatine (75 mg/m2) đã đươc đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi có kiểm soát (đối chiếu với cyclophosphamide 750 mg/m2, cisplatine 75 mg/m2), nghiên cứu GOG 111/BMS CA 139-022. Nghiên cứu này đươc thực hiện trên 400 bệnh nhân bị ung thư buồng trứng nguyên phát với bệnh đã tiến triển (trên 1 cm) hay có di căn.
Kết quả ghi nhận ở nhóm dùng Taxol có hiệu quả tốt hơn đáng kể về thời gian kìm không cho ung thư phát triển (trên 3,5 tháng) và thời gian kéo dài sự sống (trên 11 tháng). Về dung nạp thuốc thì tương tự nhau giữa hai nhóm.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Sau khi đươc truyền tĩnh mạch, nồng độ của paclitaxel trong huyết tương giảm dần theo một đường cong biểu diễn gồm hai pha.
Dươc động của paclitaxel đươc nghiên cứu trong điều kiện truyền tĩnh mạch thời gian là 3 giờ và 24 giờ, và ở liều 135 và 175 mg/m2. Thời gian bán hủy trung bình của pha cuối từ 3 đến 52,7 giờ và giá trị trung bình của thanh thải toàn phần từ 11,6 đến 24 l/giờ/m2 Sự thanh thải toàn phần dường như giảm khi nồng độ của paclitaxel trong huyết tương cao. Thể tích phân phối trung bình ở tình trạng cân bằng dao động từ 198 đến 688 l/m2điều này cho thấy có sự khuếch tán ngoại mạch và/hoặc gắn vào mô đáng kể của paclitaxel. Khi tăng 30% liều, từ 135 đến 175 mg/m2, các giá trị Cmax và diện tích dưới đường cong tăng tương ứng từ 75 đến 81% khi truyền trong 3 giờ, như vậy việc tăng liều không có liên quan tuyến tính với việc tăng các thông số dươc động.
Sự khác biệt giữa người này và người khác khi dùng paclitaxel đường toàn thân rất ít. Không ghi nhận có hiện tương tích tụ paclitaxel khi dùng nhiều đơt điều trị liên tiếp.
Các nghiên cứu in vitro đươc thực hiện trên proteine huyết thanh người cho thấy tỷ lệ gắn với proteine trung bình từ 89 đến 98%. Khi dùng đồng thới với cimetidine, ranitidine, dexamethasone hay diphenhydramine, tỷ lệ gắn với proteine không bị thay đổi.
Thể thức đào thải của paclitaxel ở người hiện chưa đươc biết rõ. Tỷ lệ đào thải qua thận dưới dạng không đổi từ 1,3 đến 12,6% liều dùng, cho thấy có sự thanh thải đáng kể ngoài thận. Các chất chuyển hóa chính đươc tìm thấy dưới dạng hydroxyl hóa. Sự chuyển hóa qua gan và đào thải qua mật dường như là cơ chế đào thải chính của paclitaxel. Chưa có nghiên cứu về ảnh hưởng trên sự chuyển hóa thuốc khi dùng cho bệnh nhân bị suy gan hay suy thận. Các thông số dươc động thu đươc ở bệnh nhân chạy thận đươc truyền Taxol 135 mg/m2 trong 3 giờ thì tương tự như ở bệnh nhân bình thường.
AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Khả năng gây ung thư của Taxol chưa đươc nghiên cứu. Tuy nhiên, paclitaxel là một tác nhân gây ung thư và độc tính trên gen do cơ chế tác động dươc lực của thuốc. Taxol đươc ghi nhận gây đột biến in vitro và in vivo trong các thử nghiệm trên tế bào của động vật hữu nhũ.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Ung thư biểu mô buồng trứng :
- trong trị liệu đầu tay ung thư buồng trứng đã tiến triển (trên 1 cm) sau khi đã mổ buồng trứng, dùng phối hơp với cisplatine ;
- trong trị liệu thứ nhì ung thư buồng trứng đã có di căn, sau khi thất bại với phương pháp điều trị cổ điển bằng các dẫn xuất của platine.
Ung thư biểu mô vú :
Taxol cũng đươc chỉ định để điều trị ung thư biểu mô vú có di căn trên những bệnh nhân đã thất bại, hoặc không đươc chỉ định sử dụng, với phương pháp điều trị cổ điển bằng các dẫn xuất của anthracycline.
CÁCH DÙNG: Điều trị đầu tay ung thư biểu mô buồng trứng :
Trong khi một số phác đồ điều trị khác đang đươc đánh giá, phác đồ đươc khuyến cáo là phối hơp Taxol 135 mg/m2, trong 24 giờ, sau đó dùng cisplatine 75 mg/m2, với khoảng cách là 3 tuần giữa 2 đơt điều trị (xem phần Tương tác thuốc).
Điều trị thứ nhì ung thư biểu mô buồng trứng và ung thư biểu mô vú :
Liều Taxol đươc khuyến cáo là 175 mg/m2, trong 3 giờ, với khoảng cách là 3 tuần giữa 2 đơt điều trị. Sau lần dùng Taxol đầu, các liều sau đó nên đươc điều chỉnh tùy theo mức độ dung nạp của từng bệnh nhân.
Cho tất cả các chỉ định :
Chỉ dùng Taxol khi số lương bạch cầu trung tính ³ 1.500/mm3 và số lương tiểu cầu ³ 100.000/mm3. Những bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính nặng (số lương bạch cầu trung tính < 500/mm3 trong 7 ngày hoặc hơn) hoặc bị bệnh lý thần kinh ngoại biên nặng, liều phải đươc giảm 20% trong các lần điều trị tiếp theo (xem Chú ý đề phòng và Thận trong lúc dùng).
Trước khi dùng Taxol, tất cả bệnh nhân phải đươc điều trị dự phòng bằng corticoide, thuốc kháng histamine và thuốc đối kháng thụ thể H2. Chẳng hạn có thể dùng 130 mg prednisolone đường uống hoặc 20 mg dexamethasone đường uống khoảng từ 12 đến 6 giờ trước khi truyền Taxol, 5 mg dexchlorpheniramine IV và 300 mg cimetidine hoặc 50 mg ranitidine IV 30 đến 60 phút trước khi truyền Taxol (xem Chú ý đề phòng và Thận trong lúc dùng).
Taxol phải đươc truyền nhờ vào một bộ phận lắp ống nối với một màng vi loc có đường kính < 0,22 mm (xem Thể thức thao tác)
THỂ THỨC THAO TÁC
Như với tất cả các thuốc chống ung thư, phải thận trong khi thao tác với Taxol. Người pha thuốc phải có kinh nghiệm và phải pha thuốc ở nơi qui định. Khi thao tác phải mang găng tay và tránh không để thuốc tiếp xúc với da hay niêm mạc. Nếu thuốc vấy vào da thì phải rửa ngay với nước và xà phòng. Nếu thuốc vấy vào niêm mạc thì phải rửa với nhiều nước. Có thể bị nóng rát và đỏ tại nơi thuốc vấy vào và giảm khi rửa với nước. Nếu lỡ hít thuốc vào sẽ có cảm giác khó thở, đau ngực, nóng rát ở hong và buồn nôn.
Phải pha loãng Taxol trước khi truyền bằng những kỹ thuật đảm bảo vô trùng.
Có thể pha Taxol trong các dung môi sau đây :
- sodium chlorure 0,9%,
- glucose 5%,
- dung dịch glucose 5% và sodium chlorure 0,9%,
- dung dịch glucose và dung dịch Ringer.
Dung môi phải đươc pha với thể tích đủ để đạt đươc nồng độ cuối cùng của Taxol từ 0,3 đến 1,2 mg/ml. Sau khi pha, các dung dịch có thể sử dụng đươc trong vòng 27 giờ, ở nhiệt độ môi trường (25°C) và có ánh sáng. Dung dịch sau khi pha loãng không đươc để trong tủ lạnh.
Một số hiếm trường hơp thấy có cặn lắng trong quá trình truyền Taxol, thường vào cuối giai đoạn truyền trong 24 giờ. Mặc dầu nguyên nhân gây ra hiện tương này chưa đươc sáng tỏ, rất có thể là do hiện tương quá bão hòa của dung dịch. Để làm giảm nguy cơ này, phải sử dụng Taxol càng sớm càng tốt sau khi pha và trong quá trình truyền tránh làm lắc hay rung chai dịch truyền. Phải quan sát kỹ chai dịch truyền trong thời gian truyền và phải ngưng truyền nếu thấy xuất hiện cặn lắng.
Sau khi pha, dung dịch có thể hơi bị đục do thành phần tá dươc, không thể loc đươc.
Taxol phải đươc truyền nhờ vào một bộ phận lắp ống nối với một màng vi loc có đường kính < 0,22 mm. Không thấy thuốc bị giảm tác dụng khi truyền bằng bộ truyền có lắp màng loc.
Các túi hoặc bộ phận lắp ống có chất liệu bằng PVC có thể giải phóng chất di-(2-ethylhexyl)-phtalate (DEHP) khi tiếp xúc với Taxol. Để tránh hiện tương này, không đươc bảo quản dung dịch Taxol trong các dụng cụ bằng PVC, mà phải dùng chai bằng thủy tinh hoặc polypropylene hoặc túi bằng polypropylene hoặc polyolefine, và khi truyền phải dùng hệ thống truyền dịch đươc tráng bằng một lớp polyethylene. Việc nối màng loc bằng PVC ở đầu vô hay đầu ra của bộ phận lắp ống không làm giải phóng đáng kể DEHP.
Hủy rác : tất cả các vật liệu tiếp xúc với Taxol phải đươc hủy ở bệnh viện theo qui định đối với những loại rác độc với tế bào.
TƯƠNG K
Do trong thành phần tá dươc của thuốc có chứa huile de ricin polyoxyethylene, không nên pha loãng, bảo quản hay để thuốc trong các dụng cụ plastic loại PVC (vì có thể phóng thích DEHP).
BẢO QUẢN
Lo thuốc chưa mở nắp phải đươc bảo quản trong chính bao bì của nó, ở nhiệt độ từ 15 đến 25°C, tránh ánh sáng.
Trong trường hơp bảo quản trong tủ lạnh (trước khi mở nắp lo), có thể thấy thuốc bị đóng cắn. Bình thường thì khi pha thuốc trong dung môi ở nhiệt độ phòng thì phần cắn này sẽ đươc hòa tan trở lại, có thể phải lắc hay không cần phải lắc, và chất lương thuốc không bị thay đổi. Nếu sau khi lắc mà thuốc vẫn không tan hay thấy vẫn còn những cặn lắng không tan thì phải hủy, không đươc sử dụng.
Có thể bảo quản thuốc trong tủ đông.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
- Việc điều trị bằng Taxol phải do một bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm quyết định. Do có thể xảy ra phản ứng quá mẫn cảm nặng, cần phải trang bị những phương tiện cấp cứu thích hơp. Bệnh nhân phải đươc cho dùng một thuốc thuộc nhóm corticoide, kháng histamine và đối kháng thụ thể H2 trước khi dùng Taxol (xem thêm phần Liều lương các Cách dùng).
- Taxol phải đươc cho dùng trước cisplatine trong trường hơp dùng phối hơp.
- Các phản ứng dị ứng nặng, đươc đặc trưng bằng chứng khó thở và tụt huyết áp đến mức cần phải đươc điếu trị, phù mạch và phát ban toàn thân, đã đươc ghi nhận trên 1% những bệnh nhân đươc điều trị bằng Taxol mặc dầu trước đó đã có dùng những thuốc dự phòng (corticoide, kháng histamine và đối kháng thụ thể H2). Các phản ứng xảy ra có liên quan đến sự phóng thích histamine.
Trường hơp xảy ra phản ứng quá mẫn cảm nặng, cần phải ngưng truyền ngay, điều trị triệu chứng và không dùng trở lại Taxol cho bệnh nhân này.
- Chứng suy tủy (chủ yếu là giảm bạch cầu trung tính) là một độc tính của thuốc (giới hạn liều dùng). Cần phải thường xuyên kiểm tra công thức máu trong thời gian điều trị với Taxol. Một đơt điều trị mới bằng Taxol chỉ đươc thực hiện khi mà số lương bạch cầu trung tính phải ³ 1.500 /mm3 và số lương tiểu cầu phải ³ 100.000/mm3.
- Các rối loạn nặng về dẫn truyền ở tim cũng đã đươc ghi nhận. Nếu có rối loạn dẫn truyền của tim trong thời gian dùng Taxol, phải dùng một biện pháp điều trị thích hơp và theo dõi điện tim của bệnh nhân trong suốt thời gian điều trị bằng Taxol. Có thể xảy ra hạ huyết áp, tăng huyết áp, chậm nhịp tim nhưng không biểu hiện bằng triệu chứng. Nên thường xuyên theo dõi các chức năng sống trong thời gian truyền Taxol, nhất là trong giờ đầu tiên.
- Mặc dầu các bệnh lý thần kinh ngoại biên là một trong những tác dụng ngoại ý thường xảy ra, nhưng chỉ ở mức độ nhẹ. Trường hơp có những triệu chứng nặng, nên giảm liều 20% cho tất cả các đơt điều trị bằng Taxol.
- Ở những bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan nhẹ, không có ghi nhận về việc độc tính của Taxol có tăng lên hay không khi duy trì thời gian truyền là 3 giờ. Hiện không có số liệu về dùng thuốc ở những bệnh nhân bị tắc mật nặng. Nếu truyền Taxol trong thời gian lâu hơn ở những bệnh nhân bị suy gan vừa hoặc nặng, có thể tăng nguy cơ suy tủy.
- Không khuyến cáo dùng Taxol ở những bệnh nhân bị suy gan nặng.
- Do trong thành phần của Taxol có chứa 396 mg ethanol tuyệt đối/ml, cũng nên lưu ý đến những tác dụng trên thần kinh trung ương có thể xảy ra.
- Không dùng Taxol bằng cách tiêm động mạch do đã ghi nhận có những phản ứng nặng trên mô trong những thử nghiệm trên động vật về khả năng dung nạp tại chỗ.
Lái xe và vận hành máy móc :
Bản thân Taxol không gây ảnh hưởng đến sự tập trung khi lái xe hay thao tác máy.
Tuy nhiên, do thuốc có chứa alcool nên phải thận trong không nên lái xe hay thao tác máy ngay sau khi điều trị vì có thể gây buồn ngủ.
Người lái xe hay phải vận hành máy móc cần phải đươc lưu ý về điều này.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Taxol đươc ghi nhận là có độc tính trên phôi và bào thai ở thỏ và làm giảm khả năng sinh sản ở chuột cống.
Không có số liệu về sử dụng Taxol cho phụ nữ có thai. Cũng như đối với tất cả các tác nhân độc tế bào khác, Taxol có thể độc cho bào thai. Chống chỉ định Taxol cho phụ nữ có thai. Nên khuyên bệnh nhân không nên có thai trong thời gian điều trị bằng Taxol. Trường hơp có thai, bệnh nhân phải báo ngay cho bác sĩ điều trị biết.
Lúc nuôi con bú :
Không biết Taxol có đươc bài tiết qua sữa mẹ hay không. Chống chỉ định Taxol trong thời gian cho con bú. Phải ngưng cho con bú trong thời gian điều trị bằng Taxol.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Sự thanh thải của paclitaxel không bị ảnh hưởng do việc dùng cimétidine trước đó.
Trong điều trị đầu tay ung thư buồng trứng, Taxol phải đươc dùng trước cisplatine. Như thế, sự dung nạp thuốc sẽ tương tự như khi Taxol đươc dùng trong đơn liệu pháp. Nếu Taxol đươc dùng sau cisplatine, tác dụng gây suy tủy sẽ nặng hơn. Sự thanh thải của paclitaxel đươc ghi nhận giảm 20% nếu Taxol đươc dùng sau cisplatine.
Có thể sự chuyển hóa của Taxol bị ức chế ở bệnh nhân đươc điều trị bằng kétoconazole. Do đó phải thận trong khi dùng Taxol cho bệnh nhân đươc điều trị đồng thời bằng kétoconazole.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Các số liệu về dung nạp thuốc mô tả dưới đây đươc thu thập từ 95 bệnh nhân bị ung thư buồng trứng và 289 bệnh nhân bị ung thư vú và đươc điều trị với liều lương và phác đồ truyền khuyến cáo (175 mg/m2, truyền trong 3 giờ) trong 3 thử nghiệm lâm sàng ở giai đoạn III. Các số liệu thu đươc cho thấy rằng nếu Taxol đươc dùng theo liều lương và phác đồ truyền khuyến cáo thì đươc dung nạp tốt và không có độc tính nào đươc ghi nhận có liên quan đến tuổi của bệnh nhân.
Taxol 100 mg/17 ml : Sự dung nạp của thuốc cũng đươc đánh giá trong một thử nghiệm đối chiếu qui mô lớn (GOG 111/BMS CA 139-022, so sánh Taxol 135 mg/m2/24 giờ / cisplatine 75 mg/m2) với cyclophosphamide/cisplatine trên 410 bệnh nhân (trong đó có 196 bệnh nhân đươc điều trị bằng Taxol). Phối hơp Taxol và cisplatine hay việc truyền Taxol trong 24 giờ không làm thay đổi sự dung nạp của Taxol.
Suy tủy là một tác dụng ngoại ý thường xảy ra nhất của Taxol. Giảm bạch cầu trung tính nặng (dưới 500/mm3) đã đươc ghi nhận trên 28% bệnh nhân không kèm theo thời kỳ sốt cao. Chỉ 1% bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính nặng trong 7 ngày hoặc hơn. 24% bệnh nhân có thời kỳ bị nhiễm trùng. Trong các thử nghiệm lâm sàng ở giai đoạn III, có hai thời kỳ nhiễm khuẩn gây tử vong đã đươc quan sát ở liều lương và phác đồ truyền khuyến cáo (175 mg/m2, truyền trong 3 giờ).
Giảm tiểu cầu đã đươc ghi nhận trên 11% bệnh nhân. 64% bệnh nhân bị thiếu máu trong đó có khoảng 6% đươc xem là nặng (Hb < 8 g/dl). Mức độ nặng nhẹ và khả năng bị thiếu máu tùy thuộc vào số lương hemoglobine trước khi điều trị.
Một trường hơp bị bệnh bạch cầu tủy và một trường hơp bị hội chứng loạn sản tủy đã đươc ghi nhận ngoài giai đoạn III.
Chứng suy tủy ít xảy ra và ít nghiệm trong hơn nếu thời gian truyền là 3 giờ so với 24 giờ. Khi phối hơp Taxol và cisplatine đươc khuyến cáo trong điều trị đầu tay ung thư buồng trứng, khả năng gây suy tủy sẽ cao hơn so với dùng riêng Taxol 175 mg/m2, truyền trong 3 giờ. Tuy nhiên không làm nặng hơn các di chứng lâm sàng.
Các phản ứng quá mẫn nặng, đôi khi gây tử vong (tụt huyết áp cần đươc điều trị, phù mạch, suy hô hấp cần phải điều trị bằng thuốc giãn phế quản, nổi ban toàn thân) đã xảy ra ở 2 bệnh nhân (dưới 1%). Các phản ứng quá mẫn nhẹ (chủ yếu là gây cơn bừng vận mạch, rash) không cần phải điều trị chuyên biệt và cũng không cần phải ngưng dùng Taxol đươc ghi nhận ở 34% bệnh nhân.
Hạ huyết áp (ở 22% bệnh nhân) và chậm nhịp tim (25% bệnh nhân) cũng có thể xảy ra trong quá trình truyền Taxol nhưng thường vừa phải và không cần phải điều trị chuyên biệt.
Trong các thử nghiệm lâm sàng ở liều lương và phác đồ truyền khuyến cáo, có 17% bệnh nhân đươc ghi nhận là có điện tâm đồ bất thường. Trong đa số trường hơp, không có mối liên hệ rõ ràng nào giữa việc dùng Taxol và việc bất thường điện tâm đồ. Ảnh hưởng trên lâm sàng của những bất thường này đươc đánh giá là nhẹ.
Một bệnh nhân (dưới 1%) bị cao huyết áp trong thời gian điều trị bằng Taxol. Ngoài ra, có 2 bệnh nhân (dưới 1%) đươc ghi nhận là có những biểu hiện bị huyết khối nặng, huyết khối các đầu của chi trên và huyết khối tĩnh mạch. Có 1 bệnh nhân đươc ghi nhận có hiện tương tim mạch bao gồm : hạ huyết áp kèm theo sốc nhiễm trùng, bệnh lý cơ tim và nhịp tim nhanh kèm theo sốt. Trong các thử nghiệm đầu đươc thực hiện ở liều và phác đồ truyền thay đổi, có 4 bệnh nhân (2%) có hiện tương tim mạch nặng có thể có liên quan đến việc dùng Taxol trong đó gồm nhịp nhanh thất không có triệu chứng, nhịp nhanh với nhịp mạch đôi, bloc nhĩ-thất và ngất.
Một số hiếm trường hơp bị nhồi máu cơ tim đươc ghi nhận. Một số trường hơp suy tim sung huyết cũnng đươc ghi nhận ở những bệnh nhân đã đươc điều trị bằng hóa trị liệu trước đó, đặc biệt là nhóm anthracycline.
Bệnh lý thần kinh ngoại biên, đươc biểu hiện chủ yếu bằng triệu chứng dị cảm, xảy ra ở 66% bệnh nhân, trong đó chỉ 5% bị nặng. Các triệu chứng thần kinh ngoại biên có thể xảy ra ngay sau lần dùng Taxol đầu tiên và nặng lên trong các lần điều trị tiếp theo. Có 3 trường hơp phải ngưng điều trị. Các rối loạn về cảm giác thường giảm và khỏi vài tháng sau khi ngưng điều trị. Không cần phải chống chỉ định dùng Taxol nếu bệnh nhân đã có bệnh lý thần kinh do việc điều trị trước đó. Trong những bệnh nhân đươc điều trị bằng Taxol ngoài nhóm thử nghiệm đối chiếu, đã ghi nhận một số trường hơp bị động kinh, rối loạn thị giác, bệnh lý não, bệnh lý thần kinh của hệ thần kinh tự động dẫn đến các trường hơp tắc ruột và tụt huyết áp tư thế. Một số rối loạn thần kinh mắt và/hoặc thị giác (ám điểm lập lòe) cũng đươc ghi nhận, đặc biệt là ở những bệnh nhân đươc cho dùng liều cao hơn liều khuyến cáo. Các tác dụng này thường phục hồi đươc.
Đau cơ và đau khớp xảy ra ở 60% bệnh nhân trong đó có 13% đươc xem là nặng.
Rụng tóc xảy ra ở hầu hết tất cả bệnh nhân.
Một số thay đổi tạm thời và nhẹ ở móng và da đã đươc ghi nhận.
Các tác dụng ngoại ý trên đường tiêu hóa ở mức độ từ nhẹ đến vừa đươc ghi nhận : buồn nôn và nôn (43%), tiêu chảy (28%) và viêm miệng (18%). Các tác dụng ngoại ý đươc ghi nhận ngoài thử nghiệm có kiểm soát gồm tắc/thủng ruột và huyết khối mạc treo ruột kể cả viêm ruột kết thiếu máu cục bộ.
Đã ghi nhận có tăng nhiều (trên 5 lần giá trị bình thường) men ASAT (SGOT) ở 5% bệnh nhân, phosphatase kiềm ở 4% bệnh nhân hay bilirubine ở ít nhất 1% bệnh nhân. Hoại tử gan và bệnh não do gan đươc ghi nhận ở một số bệnh nhân đươc điều trị bằng Taxol ngoài thử nghiệm ở giai đoạn III.
Các phản ứng tại điểm tiêm đươc ghi nhận trong thời gian truyền tĩnh mạch, có thể gây phù tại chỗ, cảm giác đau, hồng ban và chai cứng. Tùy trường hơp, tiêm thuốc trào ra khỏi mạch có thể gây viêm tế bào. Vùng da tại chỗ tiêm có thể mất màu. Phản ứng da hồi quy tại vùng da trước đó đã bị trào thuốc ra khỏi mạch sau khi dùng Taxol sang một nơi khác rất hiếm khi đươc ghi nhận. Hiện nay chưa có biện pháp điều trị chuyên biệt các phản ứng do trào thuốc ra khỏi mạch.
Các bệnh lý phổi bị viêm đã đươc ghi nhận ở những bệnh nhân đươc điều trị phối hơp với xạ trị.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: – Chống chỉ định Taxol cho những bệnh nhân đã có phản ứng quá mẫn cảm nặng với paclitaxel hoặc với bất cứ thành phần nào của thuốc, đặc biệt là với huile de ricin polyoxyethylene (Crémophor EL).
- Không đươc điều trị bằng Taxol ở những bệnh nhân có số lương bạch cầu trung tính dưới 1.500/mm3.
- Phụ nữ có thai hay cho con bú : xem thêm phần Lúc có thai và Lúc nuôi con bú.

Leave a Reply