Serevent

SereventHÃNG SẢN XUẤT: Glaxowellcome
NHÓM THUỐC: Phòng chửa hen
THÀNH PHẦN: Inhaler : hỗn dịch bơm khí dung qua miệng chứa trong bình xịt với van định liều (120 liều).
THÀNH PHẦN
cho 1 liều Inhaler
Salmeterol 25 mcg
DƯỢC LƯC
Serevent là một chất chủ vận tác động trên thụ thể b2-adrenergic mới và có tính chon loc. Với liều điều trị, thuốc có rất ít hay không có tác động có thể đo lường đươc trên tim mạch.
Salmeterol đươc chứng minh là cho tác động giãn phế quản kéo dài tối thiểu 12 giờ ở các đối tương bị tắc nghẽn đường thông khí có hồi phục. Dùng thuốc đều đặn sẽ cải thiện kéo dài trên hoạt động chức năng phổi, do đó làm giảm các triệu chứng tắc nghẽn đường hô hấp và các triệu chứng hen về đêm. Trên đại đa số bệnh nhân, việc dùng thuốc đều đặn sẽ loại bỏ đươc nhu cầu dùng thuốc giãn phế quản triệu chứng phụ trơ thêm.
Các test in vitro cho thấy rằng salmeterol là một chất ức chế mạnh và có tác động kéo dài sự phóng thích từ phổi người các chất trung gian dẫn xuất từ dưỡng bào như histamine, leukotriene và prostaglandine D2. Ở người, salmeterol ức chế đáp ứng với những dị ứng nguyên bị hít vào ở pha sớm và pha chậm và sau một liều duy nhất, sẽ làm giảm tính đáp ứng quá độ trên phế quản, thể hiện hoạt tính kháng viêm và cả hoạt tính giãn phế quản.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Điều trị đều đặn và dài hạn chứng tắc nghẽn đường hô hấp có hồi phục, trong hen phế quản (bao gồm những bệnh nhân bị hen về đêm và hen do vận động) và viêm phế quản mãn tính.
CÁCH DÙNG: Serevent chỉ dùng để hít.
Người lớn : 2 lần hít (2 x 25 mcg salmeterol) hai lần mỗi ngày.
Đối với bệnh nhân bị nghẽn đường hô hấp nặng hơn, 4 lần hít (4 x 25 mg salmeterol) hai lần mỗi ngày.
Trẻ em : Hiện nay, không có đủ số liệu lâm sàng để khuyến cáo sử dụng Serevent ở trẻ em.
Người lớn tuổi : Không cần điều chỉnh liều cho người lớn tuổi.
Không cần điều chỉnh liều cho bệnh nhân suy thận.
Để đạt đươc đầy đủ lơi ích trị liệu, nên sử dụng đều đặn Serevent trong điều trị tắc nghẽn đường hô hấp có hồi phục. Khởi phát của tác động giãn phế quản của salmétérol thường xảy ra trong vòng 5-10 phút. Ích lơi hoàn toàn sẽ trở nên rõ ràng sau một hay hai liều. Tác động giãn phế quản của salmeterol thường kéo dài 12 giờ, điều này đặc biệt hữu ích trong việc điều trị triệu chứng hen phế quản về đêm và trong kiểm tra cơn hen phế quản do vận động.
Do có thể có các tác dụng ngoại ý có liên quan đến việc quá liều, chỉ nên tăng liều hay rút ngắn khoảng cách dùng thuốc dùng khi có hướng dẫn của bác sĩ.
Trên bệnh nhân khó sử dụng bình xịt định liều, có thể sử dụng một bầu thể tích (volumatic spacer) dùng cho Serevent.
QUÁ LIỀU
Triệu chứng : Run rẩy, nhức đầu và tim nhanh.
Điều trị : Chất giải độc thường đươc dùng để điều trị quá liều Serevent là một thuốc có tính ức chế bêta chon loc trên tim. Nên dùng cẩn thận các thuốc ức chế bêta chon loc trên tim cho bệnh nhân có tiền sử co thắt phế quản.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Khi bắt đầu điều trị với Serevent với nhu cầu trị liệu giãn phế quản, các triệu chứng thường giảm do đó đa phần bệnh nhân không cần dùng thuốc giãn phế quản triệu chứng phụ trơ thêm. Nếu các triệu chứng kéo dài, bệnh nhân nên hít một chất chủ vận b có tác dụng ngắn hạn (như salbutamol) để giảm bớt triệu chứng. Tuy nhiên, thông thường nhu cầu này cho thấy việc kiểm soát tắc nghẽn đường hô hấp là chưa hoàn hảo và nên xem xét điều trị bổ sung. Việc điều trị bổ sung này có thể bao gồm gia tăng liều Serevent và/hoặc bắt đầu hay gia tăng liều của thuốc dự phòng như các corticoide dùng đường hít.
Serevent hít đươc sử dụng theo phác đồ đều đặn mỗi ngày hai lần và do đó nên đươc xem như là bổ sung cho các thuốc dự phòng khác như corticoide dùng đường hít. Khi bắt đầu dùng Serevent, bệnh nhân đươc điều trị với corticoide hít hay hay các điều trị dự phòng khác nên tiếp tục dùng các thuốc này với cùng liều như trước.
Với hầu hết các bệnh nhân, nhu cầu dùng thêm thuốc giãn phế quản hỗ trơ sẽ giảm đáng kể. Nếu bệnh nhân tiêu thụ ngày càng nhiều chất chủ vận b tác động ngắn (như salbutamol) trong một thời gian ngắn, nên theo dõi kỹ càng. Sự tăng vot cơn hen cấp nên đươc điều trị theo cách thức bình thường với thuốc giãn phế quản dạng khí dung và/hoặc dạng tiêm và corticoide dạng tiêm.
Chứng hạ kali huyết có khả năng lên đến trầm trong có thể là kết quả của việc điều trị với chất chủ vận b2. Nên đặc biệt thận trong trong hen phế quản nặng cấp tính vì tác động này có thể đươc tăng cường thêm do việc dùng đồng thời những dẫn xuất xanthine, stéroide, thuốc lơi tiểu và do chứng giảm oxy. Nên kiểm tra nồng độ kali huyết thanh trong những trường hơp này.
Nên dùng cẩn thận salmeterol cho bệnh nhân nhiễm độc giáp.
LÚC CÓ THAI
Trong các nghiên cứu trên thú vật, một vài tác động trên thai nhi đặc trưng cho chất chủ vận b xảy ra với nồng độ cao hơn nhiều so với các nồng độ dùng trị liệu. Kinh nghiệm điều trị với các chất chủ vận b-2 không cho thấy bằng chứng rằng những tác động này có ảnh hưởng đến người phụ nữ sử dụng thuốc với liều trị liệu trên lâm sàng.
Tuy nhiên, kinh nghiệm về sử dụng salmeterol lúc có thai vẫn còn giới hạn. Giống như moi thuốc khác, nên xem xét sử dụng thuốc này trong thai kỳ chỉ khi lơi ích mong đơi cho người mẹ lớn hơn bất kỳ nguy cơ nào cho thai nhi.
LÚC NUÔI CON BÚ
Nồng độ trong huyết tương của salmeterol sau khi dùng các liều điều trị theo đường hít là không đáng kể và do đó, suy ra rằng nồng độ tương ứng trong sữa có thể rất thấp. Tuy nhiên, do không có kinh nghiệm về sử dụng salmeterol cho người mẹ nuôi con bú, chỉ nên xem xét sử dụng thuốc trong những trường hơp trong đó lơi ích mong đơi cho người mẹ lớn hơn moi nguy cơ có thể xảy ra cho đứa bé.
Các nghiên cứu trên thú cho con bú đã hỗ trơ cho quan điểm rằng salmeterol hầu như đươc tiết qua sữa với một lương rất nhỏ.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Không bao giờ đươc kê toa các thuốc ức chế bêta không chon loc, như propranolol, trong hen phế quản và chỉ nên dùng một cách cẩn thận các thuốc ức chế bêta chon loc trên tim ở bệnh nhân hen phế quản.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Chứng run rẩy hiếm khi đươc báo cáo. Chứng này có khuynh hướng thoáng qua, phụ thuộc vào liều lương và giảm đi khi dùng thuốc đều đặn. Trong các thử nghiệm lâm sàng, chứng nhức đầu và đánh trống ngực chủ quan cũng đươc báo cáo hiếm khi xuất hiện nhưng tỷ lệ không khác biệt đáng kể so với placebo.
Chứng hạ kali huyết có khả năng lên đến trầm trong có thể là kết quả của việc điều trị với chất chủ vận b-2.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của Serevent.

Leave a Reply