Seretide Accuhaler

Seretide AccuhalerHÃNG SẢN XUẤT: Glaxowellcome
NHÓM THUỐC: Phòng chửa hen
THÀNH PHẦN: accuhaler (bột hít qua đường miệng) : hộp 60 liều.
THÀNH PHẦN
cho 1 liều
Salmétérol xinafoate 50 mg
Fluticasone propionate 250 mg
DƯỢC LƯC
Cơ chế tác động :
Seretide bao gồm salmeterol và fluticasone propionate có cơ chế tác động khác nhau. Salmeterol giảm co thắt phế quản (kiểm soát triệu chứng) và fluticasone propionate có tác dụng kháng viêm (kiểm soát căn nguyên bệnh) và phòng ngừa các đơt cấp. Seretide có thể đáp ứng một trị liệu thuận tiện hơn cho bệnh nhân cần điều trị bằng thuốc chủ vận bêta và corticosteroid đường hít. Cơ chế tác động của hai hoạt chất lần lươt đươc trình bày dưới đây :
Salmeterol :
Salmeterol là thuốc chủ vận thụ thể bêta 2 chon loc tác dụng kéo dài (12 giờ) với 1 chuỗi dài gắn kết với vị trí bên ngoài của thụ thể. Các đặc tính dươc lý của salmeterol làm cho việc phòng ngừa triệu chứng co thắt phế quản do histamin duy trì ít nhất 12 giờ, hiệu quả hơn khi cũng dùng liều khuyến cáo các thuốc chủ vận bêta 2 thường quy tác dụng ngắn.
Các thử nghiệm in vitro cho thấy rằng salmeterol có tác động ức chế mạnh và kéo dài việc phóng thích từ phổi người các chất chuyển hóa trung gian từ dưỡng bào như histamine, leukotrienes và prostaglandin D2.
Ở người, salmeterol ức chế đáp ứng với những dị nguyên hít phải ở pha sớm và pha chậm, việc tác động này duy trì trong 30 giờ sau một liều duy nhất, khi tác động giãn phế quản không còn nữa. Liều duy nhất salmeterol làm suy giảm sự mẫn cảm phế quản. Các đặc tính này cho thấy rằng salmeterol có tác động cộng thêm, ngoài tác động giãn phế quản, nhưng dấu hiệu lâm sàng còn chưa đươc rõ ràng. Cơ chế này khác với tác động kháng viêm của corticosteroid.
Fluticasone propionate :
Fluticasone propionate dùng đường hít với liều khuyến cáo có tác động kháng viêm của glucocorticoid trong phổi, giúp cải thiện triệu chứng và giảm cơn hen cấp, không có tác dụng phụ nào như khi dùng corticosteroid đường toàn thân.
Lương hormon thương thận tiết ra hàng ngày vẫn đươc duy trì trong giới hạn bình thường trong quá trình điều trị dài hạn với fluticasone propionate đường hít, ngay cả khi dùng liều khuyến cáo cao nhất ở trẻ em và người lớn. Sau khi chuyển từ các steroid đường hít khác sang fluticasone propionate, lương hormon tiết ra hàng ngày dần dần đươc cải thiện, mặc dù trước kia hay hiện tại có dùng gián đoạn các steroid đường uống, như vậy cho thấy chức năng thương thận trở về hoạt động bình thường khi dùng fluticasone propionate đường hít. Dự trữ thương thận vẫn duy trì bình thường trong quá trình điều trị dài hạn fluticasone propionate đường hít khi đo bằng sự gia tăng bình thường trong một test kích thích. Tuy nhiên, sự suy yếu dự trữ thương thận tồn tại sau các điều trị trước đó có thể kéo dài đáng kể và yếu tố này cũng cần đươc lưu ý (xem Chú ý đề phòng và Thận trong lúc dùng).
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Không có bằng chứng trên động vật hay người cho thấy việc dùng salmeterol và fluticasone propionate với nhau bằng đường hít ảnh hưởng đến dươc động của từng thành phần thuốc.
Do đó về mặt dươc động hoc, các thành phần có thể đươc xem xét riêng biệt.
Dù rằng nồng độ Seretide trong huyết tương rất thấp, nhưng không thể loai trừ khả năng tương tác với các chất nền khác hay các thuốc ức chế CYP 3A4.
Salmeterol :
Salmeterol tác động tại chỗ trong phổi do đó nồng độ hoạt chất trong huyết tương thấp hơn nồng độ điều trị. Ngoài ra, có hạn chế về các dữ liệu dươc động hoc của salmeterol, do khó khăn về mặt kỹ thuật để xét nghiệm thuốc trong huyết tương vì nồng độ thuốc ở liều điều trị trong huyết tương rất thấp (khoảng 200 pg/ml hay thấp hơn). Sau khi dùng liều thông thường với salmeterol xinafoate, hydroxynaphthoic có thể đươc phát hiện trong hệ tuần hoàn, đạt nồng độ hằng định khỏang 100 ng/ml. Nồng độ này có thể lên tới gấp 1000 lần trong các trường hơp ngộ độc. Không thấy tác động có hại nào quan sát thấy trong các điều trị dài hạn thường xuyên (trên 12 tháng) ở bệnh nhân tắc nghẽn đường thở.
Fluticasone propionate :
Sau khi tiêm đường tĩnh mạch, dươc động của Fluticasone propionate tương ứng với liều.
Fluticasone propionate đươc phân bố rộng khắp cơ thể (Thể tích phân bố đạt khoảng 300 l) và có độ thanh thải rất cao (đạt tới 1,1 l/phút) qua đường gan.
Nồng độ đỉnh trong huyết tương giảm khoảng 98% trong vòng 3-4 giờ, và chỉ còn nồng độ huyết tương thấp liên quan với thời gian bán thải, khoảng 8 giờ.
Sau khi dùng đường uống Fluticasone propionate, 87-100% liều đươc đào thải qua phân.
Sau khi dùng liều 1 hay 16 mg, tương ứng có đến 20 và 75% đươc đào thải trong phân dạng hơp chất ban đầu.
Độ khả dụng sinh hoc tuyệt đối là không đáng kể (< 1%) do sự kết hơp giữ việc hấp thu không hoàn toàn từ đường tiêu hóa và chuyển hóa lần đầu qua gan nhiều.
Sau khi dùng liều hít, độ khả dụng sinh hoc tuyệt đối toàn bộ của Fluticasone propionate : là 12-26% phụ thuộc vào dạng trình bày.
Việc hấp thu Fluticasone propionate : chủ yếu qua phổi, khởi đầu nhanh, sau đó kéo dài.
Tỉ lệ gắn kết protein là 91%.
Fluticasone propionate: đươc chuyển hóa mạnh nhờ enzym CYP 3A4 thành dẫn xuất carboxylic bất hoạt.
Các dữ liệu sẵn có về dươc động hoc ở trẻ em tương tự với kết quả nghiên cứu ở người lớn.
AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Salmeterol xinafoate và fluticasone propionate đã đươc nghiên cứu nhiều trong các thử nghiệm độc tính trên động vật. Độc tính chỉ xảy ra khi dùng quá liều điều trị cho người và liên quan đến thuốc chủ vận bêta 2 và glucocorticosteroid.
Trong các nghiên cứu dài hạn, Salmeterol xinafoate gây các u lành tính ở cơ trơn mạc treo buồng chứng và tử cung trên chuột cống.
Do động vật gặm nhấm dễ bị các u lành tính do thuốc, salmeterol không đươc xem là thuốc gây ung thư có hại cho người.
Việc dùng kết hơp salmeterol xinafoate và fluticasone propionate gây ra một vài triệu chứng tim mạch khi dùng liều cao. Ở chuột cống, viêm cơ tim tâm nhĩ nhẹ và viêm động mạch vành trung tâm là các tác động thoáng qua liên quan với liều bình thường. Ở chó, khi dùng kết hơp, nhịp tim tăng nhanh hơn là khi dùng salmeterol đơn thuần.
Không có tác động tim mạch ngoại ý nặng nào quan sát thấy khi nghiên cứu ở người.
Trên động vật, việc kết hơp 2 hoạt chất không làm gây ra thêm các độc tính khác.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Seretide đươc chỉ định trong điều trị phòng ngừa các bệnh lý tắc nghẽn đường hô hấp có thể hồi phục, bao gồm hen phế quản ở trẻ em và người lớn, khi việc sử dụng phối hơp (thuốc giãn phế quản và corticosteroid đường hít) là thích hơp.
Chỉ định này có thể bao gồm :
- Bệnh nhân điều trị duy trì hiệu quả với thuốc chủ vận bêta tác dụng kéo dài và corticosteroid đường hít.
- Bệnh nhân vẫn còn triệu chứng, dù đang điều trị bằng corticosteroid đường hít.
- Bệnh nhân đang điều trị giãn phế quản thường xuyên.
CÁCH DÙNG: Thuốc chỉ dùng đường hít qua miệng.
Bệnh nhân nên đươc thông báo rằng Seretide phải đươc dùng thuờng xuyên để đạt hiệu quả tối ưu, ngay cả khi không có triệu chứng.
Bệnh nhân nên đươc khuyên tái khám thường xuyên, nhờ vậy hiệu quả tối ưu của Seretide đươc dùng sẽ duy trì và chỉ thay đổi theo y lệnh. Liều nên đươc chuẩn độ cho tới liều thấp nhất mà vẫn duy trì hiệu quả kiểm soát triệu chứng.
Liều khuyến cáo :
Người lớn và trẻ em trên 12 tuổi :
Một nhát xịt (50 mg salmeterol và 100 mg flucasone propionate) ngày 2 lần ; hay
Một nhát xịt (50 mg salmeterol và 250 mg flucasone propionate) ngày 2 lần ; hay
Một nhát xịt (50 salmeterol và 500 flucasone propionate) ngày 2 lần.
Trẻ em từ 4 tuổi trở lên :
Một nhát xịt (50 mg salmeterol và 100 mg flucasone propionate) ngày 2 lần.
Không có tài liệu sẵn có về việc dùng Seretide cho trẻ dưới 4 tuổi.
Nhóm bệnh nhân đặc biệt :
Không cần chỉnh liều cho bệnh nhân lớn tuổi hay bệnh nhân bị suy thận hay suy gan.
Hướng dẫn sử dụng :
Mở nắp dụng cụ. Đặt phần miệng của dụng cụ vào miệng và ngậm môi lại. Sau đó hít liều thuốc vào và đóng dụng cụ lại.
Mức chỉ liều trên Accuhaler chỉ ra số liều còn lại.
QUÁ LIỀU
Không có dữ liệu sẵn có từ các thử nghiệm lâm sàng về việc quá liều Seretide, tuy nhiên tài liệu về quá liều cho cả hai hoat chất như sau :
Dấu hiệu và triệu chứng quá liều salmeterol là run, nhức đầu và nhịp nhanh. Thuốc đối kháng thích hơp là các thuốc chẹn thụ thể bêta chon loc trên tim, nên đươc dùng thận trong trên bệnh nhân có tiền sử co thắt phế quản. Khi việc điều trị bằng Seretide phải ngưng do quá liều thành phần chủ vận bêta của thuốc, nên cân nhắc việc sử dụng liệu pháp steroid thay thế thích hơp.
Dùng quá liều khuyến cáo fluticasone propionate đường hít có thể gây suy chức năng thương thận tạm thời.
Không cần thiết phải điều trị cấp cứu vì chức năng thương thận sẽ hồi phục trong vài ngày, bằng cách đo nồng độ cortisol huyết tương. Tuy nhiên, nếu liều cao hơn liều khuyến cáo đươc tiếp tục dùng kéo dài, có thể gây ra các mức độ suy thương thận. Vieếc theo dõi sự hồi phục của thương thận là cần thiết. Trong trường hơp việc quá liều fluticasone propionate trong Seretide có thể vẫn đươc tiếp tục với liều thích hơp nhằm kiểm soát triệu chứng (xem phần Chú ý đề phòng và Thận trong lúc dùng).
BẢO QUẢN
Bảo quản dưới 30oC, nơi khô.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Việc điều trị bệnh tắc nghẽn đường thở thường nên theo chương trình điều trị bậc thang và đáp ứng của bệnh nhân với thuốc nên đươc theo dõi lâm sàng và bằng các test đo chức năng hô hấp.
Seretide không dùng điều trị triệu chứng cấp tính, như một thuốc giãn phế quản có tác động nhanh và ngắn hạn (như salbutamol). Bệnh nhân nên đươc khuyên phải luôn luôn dự phòng các thuốc điều trị triệu chứng cấp.
Việc gia tăng sử dụng thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn hạn để điều trị triệu chứng hen phế quản, làm cho việc kiểm soát hen phế quản khó khăn hơn.
Việc giảm kiểm soát cơn hen phế quản đột ngột và tăng dần có khả năng đe doa đến tính mạng và bệnh nhân nên đươc khuyên đến bác sĩ tái khám và nên cân nhắc đến việc tăng liều corticosteroid. Tương tự, khi liều dùng hiện tại của Seretide thất bại trong việc kiểm soát bệnh tắc nghẽn đường thở, bệnh nhân nên đươc khuyên đi tái khám bác sĩ trong những trường hơp này.
Nên cân nhắc dùng thêm một corticosteroid và dùng thêm kháng sinh nếu có hiện tương nhiễm trùng xảy ra.
Không nên ngưng đột ngột việc điều trị với Seretide.
Cũng như với thuốc đường hít chứa corticosteroid khác, Seretide nên đươc dùng thận trong trên bệnh nhân lao tiến triển hay lao tiềm ẩn.
Seretide nên đươc dùng thận trong trên bệnh nhân bị nhiễm độc giáp.
Một số hiếm trường hơp glôcôm và tăng nhãn áp đã đươc báo cáo sau khi dùng corticosteroid đường hít.
Nên thận trong khi cho bệnh nhân chuyển sang dùng Seretide, đặc biệt nếu thấy có lý do nghi ngờ bị suy thương thận từ các trị liệu steroid toàn thân trước đó.
Lái xe và vận hành máy móc :
Không có nghiên cứu chuyên biệt nào về tác động của Seretide trên khả năng này, nhưng dươc lý thuốc không cho thấy ảnh hường nào.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Việc dùng thuốc trong thai kỳ và khi cho con bú chỉ nên cân nhắc khi hiệu quả mong muốn cho người mẹ cao hơn các nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi và cho trẻ.
Hiện không có đầy đủ kinh nghiệm về việc sử dụng salmeterol và fluticasone propionate trên phụ nữ có thai và cho con bú.
Trong các nghiên cứu ở động vật về độc tính thuốc trên khả năng sinh sản, dù dùng đơn thuần hay phối hơp, cho thấy các tác động trên thai nhi chỉ đươc ghi nhận khi dùng thuốc chủ vận bêta và glucocorticosteroid đường toàn thân liều cao.
Các kinh nghiệm lâm sàng với các thuốc cùng nhóm cho thấy không có bằng chứng nào về tác động có liên quan tới liều điều trị. Cả salmeterol hay fluticasone propionate không cho thấy khả năng gây độc cho sự di truyền.
Nồng độ của salmeterol và fluticasone propionate trong huyết tương sau khi dùng liều điều trị dạng hít rất thấp và do đó nồng độ thuốc trong sữa mẹ cũng rất thấp. Điều này cũng đươc ghi nhận trên các động vật nghiên cứu, nồng độ thuốc đo đươc trong sữa rất thấp. Không có dữ liệu sẵn có về nồng độ thuốc trong sữa mẹ.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Dù rằng nồng độ Seretide trong huyết tương rất thấp, nhưng không thể loai trừ khả năng tương tác với các chất nền khác hay các thuốc ức chế CYP 3A4.
Nên tránh dùng các thuốc chẹn thụ thể bêta chon loc và không chon loc trên bệnh nhân có bệnh lý tắc nghẽn đường thở có thể hồi phục đươc, trừ khi có các lý do bắt buộc phải dùng.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Do Seretide bao gồm salmeterol và fluticasone propionate, có thể có các loại và mức độ các phản ứng phụ khác nhau liên quan với từng thành phần thuốc. Không có bằng chứng nào về các tác dụng cộng thêm khi dùng cùng lúc hai hoạt chất này.
Sau đây là các tác dụng liên quan với salmeterol hay fluticasone propionate:
Salmeterol :
Các phản ứng phụ về mặt dươc lý của thuốc chủ vận bêta như run, đánh trống ngực và nhức đầu, đã đươc báo cáo, nhưng các phản ứng này thường thoáng qua và giảm khi đã dùng thuốc thường xuyên.
Loạn nhịp tim (bao gồm rung nhĩ, nhịp nhanh trên thất và ngoai tâm thu) có thể xảy ra thường trên bệnh nhân nhạy cảm.
Có báo cáo về triệu chứng đau khớp và phản ứng quá mẫn, bao gồm nổi mẩn, phù và phù mạch.
Hiếm khi có đau cơ.
Fluticasone propionate :
Khàn giong và nhiễm nấm candida miệng và hong có thể xảy ra ở một vài bệnh nhân.
Phản ứng quá mẫn da đã đươc báo cáo.
Cả hai triệu chứng khàn giong và tần suất nhiễm nấm candida có thể giảm bằng cách súc miệng với nước sau khi dùng salmeterol và fluticasone propionate.
Triệu chứng nhiễm nấm candida có thể đươc điều trị bằng thuốc kháng nấm tại chỗ trong khi vẫn tiếp tục dùng salmeterol và fluticasone propionate.
Cũng như các trị liệu đường hít khác, có thể có xảy co thắt phế quản nghịch thường với triệu chứng khò khè gia tăng ngay sau khi dùng thuốc. Nên điều trị tức thời với một thuốc giãn phế quản đường hít tác dụng nhanh. Nên ngừng dùng salmeterol và fluticasone propionate, bệnh nhân nên đươc thăm khám và dùng phương pháp điều trị thay khác khi cần.
Các thử nghiệm lâm sàng về salmeterol và fluticasone propionate:
Các phản ứng không mong muốn thường đươc báo cáo là:
Khàn giong/nói khó, kích ứng hong, nhức đầu, nhiễm candida miệng và hong và đánh trống ngực.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Seretide chống chỉ định dùng cho bệnh nhân có tiền sử quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Leave a Reply