Scandinibsa 2% Forte

Scandinibsa 2 ForteHÃNG SẢN XUẤT: Inibsa, S.A.
NHÓM THUỐC: Gây tê, gây mê
THÀNH PHẦN: dung dịch tiêm bắp (trong RHM dùng để gây tê dưới niêm mạc hoặc gây tê vùng) 2% : ống 1,8 ml, hộp 100 ống.
THÀNH PHẦN
cho 1 ống
Mépivacaine chlorhydrate 36,00 mg
Epinéphrine bitartrate 18,00 mg
Tá dươc : Sodium chlorure, sodium métabisulfite, nước dùng để tiêm vừa đủ 1,8 ml.
DƯỢC LÝ LÂM SÀNG
Tác dụng dươc lý là tác dụng của mépivacaine.
Mépivacaine là một thuốc gây tê đươc tổng hơp từ năm 1957, có sau chất lidocaine và có ưu thế hơn so với các thuốc gây tê hiện đang có như procaine.
Mépivacaine có khả năng không gây phản ứng phản vệ.
DƯỢC LƯC
Giống như moi thuốc gây tê tại chỗ, mépivacaine cũng ức chế cả sự phát sinh lẫn sự dẫn truyền của các xung động thần kinh.
Vị trí tác dụng chủ yếu của mépivacaine là màng tế bào, làm thay đổi tính thấm của màng đối với ion natri, gây ra sự khử cực màng và từ đó ngưỡng kích thích điện sẽ tăng lên, còn yếu tố dẫn truyền sẽ giảm xuống. Khi các tác dụng này đạt đúng mức thì dẫn truyền sẽ bị ức chế.
Để tăng đươc sự ổn định của hơp chất, mépivacaine đươc sử dụng dưới dạng muối hòa tan trong nước (muối chlorhydrate hay hydrochloride).
Nghiên cứu tác dụng trên động vật cho thấy mépivacaine có hiệu quả gây tê lớn hơn nhiều so với procaine và đạt sự phong bế bề mặt với liều thấp hơn so với cocaine và tétracaine.
Tác động dươc lý cơ bản của épinéphrine là làm co mạch tại chỗ, ngăn cản sự khuếch tán các thuốc kết hơp khác như mépivacaine chẳng hạn.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Mépivacaine đươc hấp thu nhanh chóng từ vị trí tiêm và phân bố vào các mô thông qua dạng base không ion hóa, đươc tạo ra từ trong mô, do sự trung hòa của các muối chlorhydrate ở môi trường ngoại bào. Sau 4 giờ hầu như không còn hoạt tính ở nơi tiêm. Mépivacaine nhanh chóng bị chuyển thành các hơp chất ít lipide.
Theo nghiên cứu, hơn 50% liều mépivacaine sẽ qua mật dưới dạng chất chuyển hóa, vào ruột và cuối cùng bài tiết qua nước tiểu.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Gây tê vùng và gây tê tại chỗ trong Răng Hàm Mặt.
CÁCH DÙNG: Dùng tiêm dưới da hay tiêm bắp. Trong RHM dùng để gây tê dưới niêm mạc hoặc gây tê vùng.
Như tất cả các chất gây tê tại chỗ, liều lương thay đổi tùy theo vùng cần gây tê, sự phân bố mạch của mô, số đoạn thần kinh phải phong bế, sự dung nạp thuốc của mỗi người và kỹ thuật gây tê. Dùng liều thấp nhất đủ để gây tê. Liều 1 đơn vị khuyên dùng cho người lớn (hay tổng liều các đơt đươc dùng liên tiếp) không đươc vươt quá 400 mg. Khi cho liều theo trong lương của bệnh nhân, không đươc vươt quá 50 mg/kg của trong lương cơ thể, cho 1 liều duy nhất.
QUÁ LIỀU
Như các thuốc gây tê tại chỗ, một liều quá mức, hấp thụ nhanh hay vô ý tiêm vào mạch máu sẽ gây các triệu chứng ngộ độc dưới dạng biến chứng và co thắt đường hô hấp và tuần hoàn.
BẢO QUẢN
Tránh để nơi có ánh sáng và nhiệt độ nóng.
TÁC DỤNG PHỤ: THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Người chơi thể thao cần đươc cảnh báo rằng thuốc này có chứa thành phần có thể cho kết quả dương tính trong thử nghiệm kiểm tra thuốc kích thích.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Các dung dịch chứa chất làm co mạch không đươc tiếp xúc với kim loại, như kim tiêm dưới da, v.v… trong một thời gian dài, vì các ion kim loại có thể gây ảnh hưởng đến độ pH 3-4 của dung dịch, cần thiết để ổn định thành phần chất co mạch.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Sự an toàn và hiệu quả thường tùy thuộc vào liều thích hơp, đúng kỹ thuật, thận trong đúng mức và kịp thời trong cấp cứu.
Dung dịch chứa các chất làm co mạch đươc dùng một cách cẩn thận trên bệnh nhân có các bệnh ảnh hưởng đến hệ tim mạch.
Dùng quá liều, thuốc đươc hấp thu mau, hay vô ý tiêm vào trong mạch máu sẽ tạo ra một nồng độ cao trong huyết tương gây các phản ứng nghịch toàn thân, làm tổn hại đến hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Không đươc dùng cho bệnh nhân đã biết là có dị ứng với các thuốc gây tê tại chỗ thuộc nhóm amide.

Leave a Reply