Sandostatin 50mcg

Sandostatin 50mcgHÃNG SẢN XUẤT: Novartis
NHÓM THUỐC: Tiêu hóa
THÀNH PHẦN: dung dịch tiêm dưới da 50 mcg/ml : hộp 5 ống thuốc 1 ml – Bảng B.
THÀNH PHẦN
cho 1 ống thuốc
Octreotide acetate, tương ứng với octreotide (peptide tự do) 50 mcg
(Lactic acid, mannitol)
DƯỢC LƯC
Octreotide là chất octapeptide tổng hơp có tác dụng dươc lý tương tự như somatostatin tự nhiên, nhưng có thời gian tác dụng dài hơn đáng kể. Thuốc ức chế sự tăng bài tiết hormone tăng trưởng (GH) và các peptide của hệ nội tiết dạ dày-ruột-tụy (GEP : gastroenteropancreatic).
Ở động vật, octreotide có tác dụng ức chế hormone tăng trưởng, ức chế sự giải phóng glucagon và insulin mạnh hơn somatostatin do tác dụng chon loc hơn trong việc ức chế GH và glucagon.
Dùng thuốc trong thời gian dài (26 tuần) với liều lên tới 1 mcg/kg/ngày (tiêm màng bụng) đối với chuột và 0,5 mcg/kg/ngày (đường tĩnh mạch) ở chó cho thấy dung nạp tốt.
Ở người khỏe mạnh, Sandostatin cho thấy các tác dụng ức chế đối với :
- Sự giải phóng hormone tăng trưởng (GH) kích thích bởi arginine, hoạt động thể dục và giảm đường huyết do insulin.
- Sự giải phóng insulin, glucagon, gastrin, các peptide khác thuộc hệ GEP và sự giải phóng insulin và glucagon kích hoạt bởi arginine xảy ra sau bữa ăn.
- Hormone hướng giáp (TRH): kích thích giải phóng kích giáp tố (TSH : thyroid stimulating hormone).
Ở bệnh nhân to viễn cực, (bao gồm cả những người không đáp ứng với điều trị phẫu thuật, tia xạ hay dùng dopamine agonist), Sandostatin làm giảm nồng độ hormone tăng trưởng và/hoặc somatomedin C. Việc giảm đáng kể lương GH trên lâm sàng (50% hoặc hơn) diễn ra trên hầu hết bệnh nhân ; và hàm lương trung bình (lương GH trong máu < 5 ng/ml) có thể đạt đươc với khoảng một nửa số ca. Trên hầu hết bệnh nhân, Sandostatin làm giảm đáng kể các triệu chứng lâm sàng của bệnh, ví dụ như đau đầu, sưng nề da và các mô mềm, tăng tiết mồ hôi, đau khớp, dị cảm. Ở những bệnh nhân có khối u tuyến yên lớn, điều trị Sandostatine có thể làm khối u nhỏ lại.
Với những bệnh nhân có khối u đường tiêu hóa, Sandostatin, do tác dụng nhiều mặt về nội tiết, làm thay đổi nhiều triệu chứng lâm sàng. Sự cải thiện về lâm sàng diễn ra ở nhiều bệnh nhân với các triệu chứng nặng do khối u mặc dù trước đó đã đươc điều trị bằng nhiều phương thức bao gồm phẫu thuật, làm tắc động mạch gan và nhiều phương pháp hóa trị liệu như streptozotocin và 5-fluorouracil.
Sandostatin tác dụng trên nhiều loại khối u khác nhau :
- Loại carcinoid
Dùng Sandostatin có thể làm cải thiện các triệu chứng, đặc biệt là chứng đỏ bừng và ỉa chảy. Trong rất nhiều trường hơp, tác dụng này đi kèm với sự giảm lương serotonin trong huyết tương và sự giảm bài tiết 5-hydroxyindole acetic acid. Nếu không thấy có đáp ứng khi điều trị với Sandostatin, không nên tiếp tục điều trị kéo dài hơn một tuần.
- VIPoma
Đặc tính sinh hóa của các khối u này là sự sản xuất quá mức vasoactive intestinal peptide (VIP). Trong hầu hết các trường hơp, sử dụng Sandostatin làm giảm nhẹ tình trạng ỉa chảy nặng, do vậy cải thiện đươc chất lương cuộc sống cho bệnh nhân.
Kèm theo là sự cải thiện về tình trạng mất cân bằng điện giải, như hạ kali máu, cho phép ngừng bồi phụ nước và điện giải. Ở một số bệnh nhân, chụp cắt lớp điện toán gơi tới sự làm chậm lại hay ngừng phát triển của khối u, hoặc thậm chí thu nhỏ lại, đặc biệt trường hơp di căn gan. Sự thuyên giảm lâm sàng thường đi cùng với sự giảm lương VIP có thể xuống tới mức bình thường.
- Glucagonomas (u tế bào alpha tiểu đảo tụy)
Dùng Sandostatin trong hầu hết các trường hơp có tác dụng cải thiện đáng kể tình trạng ban da hoại tử. Tác dụng của Sandostatine với tình trạng đái đường nhẹ, dấu hiệu thường xảy ra, không rõ ràng và nói chung không dẫn tới việc phải điều chỉnh hay cần dùng insulin hay các thuốc hạ đường huyết uống. Sandostatin tạo đươc sự thuyên giảm cho bệnh nhân bị ỉa chảy và làm tăng cân. Dù cho việc dùng Sandostatin làm giảm ngay lương glucagon, quá trình này không tồn tại trong suốt thời gian dài dùng thuốc, mặc dù các triệu chứng vẫn tiếp tục đươc cải thiện.
- Gastrinoma/hội chứng Zolinger-Ellison
Mặc dù điều trị với thuốc ức chế chon loc receptor H2 và thuốc kháng acid kiềm chế đươc loét dạ dày tái phát do tăng tiết acid nhưng như vậy chưa hoàn toàn đầy đủ, do ỉa chảy cũng có thể là một triệu chứng nổi bật không thuyên giảm khi điều trị như trên. Dùng Sandostatine đơn trị hay kết hơp với thuốc đối kháng receptor H2 có thể làm giảm sự tăng tiết dịch vị và làm giảm triệu chứng, bao gồm cả ỉa chảy. Các triệu chứng khác có thể gặp do khối u làm tăng sinh peptide như nóng bừng cũng có thể đươc giảm nhẹ. Ở một số bệnh nhân có sự giảm lương gastrin trong huyết tương.
- U đảo tụy
Dùng Sandostatin có thể làm giảm lương insulin phản ứng (hoạt động) lưu thông trong một thời gian ngắn (trong khoảng 2 giờ). Ở những bệnh nhân có khả năng phẫu thuật, điều này có thể giúp cho việc hồi phục và duy trì mức đường huyết bình thường trước mổ. Đối với những bệnh nhân có khối u lành hoặc ác tính không có khả năng phẫu thuật, việc kiểm soát đường huyết có thể đươc cải thiện không kèm theo việc giảm lương insulin lưu thông.
- GRFomas
Những u hiếm gặp đươc đặc trưng bởi yếu tố giải phóng hormone tăng trưởng (GRF : growth hormone releasing factor) đơn độc hay kết hơp với các peptide hoạt động khác. Trong một nửa số trường hơp, Sandostatin có tác dụng cải thiện các biểu hiện và triệu chứng do bệnh to cực. Tác dụng này có thể là do sự ức chế bài tiết yếu tố GRF và hormone tăng trưởng, và sau đó có thể có sự giảm bớt kích cỡ tuyến yên.
Ở bệnh nhân với hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) có biểu hiện ỉa chảy dai dẳng
Sandostatin có tác dụng kiềm chế hoàn toàn hay một phần lương phân đào thải trên khoảng 1/3 số bệnh nhân không đáp ứng với các thuốc chống nhiễm khuẩn hay chống ỉa chảy thông thường.
Ngăn ngừa các biến chứng sau phẫu thuật tụy
Ở những bệnh nhân phẫu thuật tụy, dùng Sandostatin trước và sau mổ làm giảm sự xuất hiện các biến chứng (như dò tụy, áp-xe sau nhiễm trùng, viêm tụy cấp sau mổ).
Ở bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa vì giãn vỡ tĩnh mạch thực quản do xơ gan
Sandostatin đươc dùng kết hơp với phương pháp điều trị đặc hiệu (như tiêm xơ qua nội soi) cho thấy tác dụng tốt hơn trong việc kiềm chế chảy máu và chảy máu tái phát sớm, làm giảm nhu cầu bồi phụ dịch và cải thiện khả năng sống còn trong 5 ngày đầu. Trong khi cơ chế tác dụng cụ thể của Sandostatin chưa đươc hiểu rõ hoàn toàn, người ta cho rằng Sandostatin làm giảm lương máu lưu thông nội tạng nhờ ức chế các hormone hoạt mạch (như VIP, glucagon).
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Sau khi tiêm dưới da, Sandostatin đươc hấp thu nhanh và hoàn toàn. Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt đươc trong vòng 30 phút. Quá trình đào thải thuốc sau khi tiêm dưới da có thời gian bán hủy là 100 phút. Sau khi tiêm tĩnh mạch, thuốc đươc thải trừ qua 2 pha với thời gian bán hủy theo thứ tự là 10 phút và 90 phút. Lương thuốc đươc phân phối là 0,27 l/kg và hệ số thanh thải toàn bộ là 160 ml/phút. Lương thuốc gắn với protein huyết tương lên tới 65%. Lương Sandostatin gắn với tế bào máu là không đáng kể.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: – Kiềm chế các triệu chứng và giảm tiết hormone tăng trưởng và lương somatomedin C trong huyết tương ở những bệnh nhân to viễn cực không đáp ứng hoàn toàn với điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị hay dopamine agonist. Sandostatin cũng đươc chỉ định trong những trường hơp bệnh nhân không có khả năng hay không muốn phẫu thuật ; hoặc trong giai đoạn chuyển tiếp cho tới khi xạ trị đạt đươc tác dụng hoàn toàn.
- Làm giảm các triệu chứng do khối u nội tiết đường tiêu hóa :
1) Các loại khối u đã có nhiều bằng chứng về hiệu quả của thuốc :
Carcinoid với các đặc điểm của hội chứng carcinoid
VIPoma
Glucagonomas
2) Các loại khối u cho thấy thuốc có tác dụng trong khoảng 50% trường hơp (hiện với số lương bệnh nhân hạn chế) :
Gastrinomas/hội chứng Zollinger-Ellison (thường kết hơp với điều trị thuốc kháng H2 chon loc có kèm hoặc không với thuốc kháng acid)
U đảo tụy (insulinoma, trong việc kiềm chế hạ glucose huyết trước khi phẫu thuật và trong điều trị duy trì)
GRFoma.
Sandostatine không phải là thuốc kháng u và không chữa khỏi đươc các bệnh nhân này.
- Kiềm chế chứng ỉa chảy dai dẳng do AIDS.
- Phòng ngừa các biến chứng sau phẫu thuật tụy.
- Điều trị cấp cứu để làm ngừng chảy máu và phòng ngừa chảy máu tái phát do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản trên bệnh nhân xơ gan. Sandostatin đươc dùng kết hơp với điều trị đặc hiệu như tiêm xơ qua nội soi.
- Trong một số công trình nghiên cứu, Sandostatin đươc dùng trong điều trị cấp cứu ho ra máu và bước đầu cho thấy kết quả tốt.
CÁCH DÙNG: – Bệnh to viễn cực :
Liều ban đầu 0,05-0,1mg tiêm dưới da mỗi 8-12 giờ. Điều chỉnh liều tùy theo đánh giá về lương GH hàng tháng và các triệu chứng lâm sàng, và tùy thuộc vào khả năng dung nạp thuốc. Đối với hầu hết bệnh nhân, liều dùng hàng ngày tốt nhất 0,2-0,3 mg. Không nên dùng quá liều 1,5 mg/ngày.
Nếu không có sự giảm phù hơp lương GH và các triệu chứng lâm sàng không đươc cải thiện trong vòng 3 tháng, cần ngưng điều trị với Sandostatin.
- Khối u nội tiết đường tiêu hóa :
Liều dùng ban đầu 0,05 mg một hoặc hai lần hàng ngày tiêm dưới da. Tùy theo đáp ứng lâm sàng, tác động tới lương hormone do khối u tiết ra (trong trường hơp u carcinoid, thải trừ qua đường tiết niệu dưới dạng 5-hydroxyindole-acetic acid) ; và tùy thuộc vào khả năng dung nạp thuốc mà có thể tăng liều dần dần tới 0,1-0,2 mg ba lần hàng ngày. Trong một số trường hơp ngoại lệ có thể phải dùng liều cao hơn. Liều duy trì cần đươc điều chỉnh tùy theo từng trường hơp.
- Bệnh AIDS gây ỉa chảy kéo dài :
Các tài liệu cho rằng liều ban đầu tốt nhất là 0,1 mg dùng ba lần mỗi ngày tiêm dưới da. Nếu chưa kiềm chế đươc chứng ỉa chảy sau một tuần điều trị cần điều chỉnh lại liều tùy theo từng trường hơp, có thể tới 0,25 mg dùng ba lần hàng ngày. Việc điều chỉnh liều phải dựa vào đánh giá về lương phân đươc đào thải và khả năng dung nạp thuốc.
Nếu sau 1 tuần điều trị với Sandostatin với liều 0,25 mg ba lần/ngày mà các dấu hiệu không đươc cải thiện thì cần ngưng thuốc.
- Các biến chứng sau phẫu thuật tụy :
0,1 mg x 3 lần hàng ngày tiêm dưới da trong 7 ngày liên tiếp, bắt đầu vào ngày trước phẫu thuật ít nhất 1 giờ trước mổ.
- Xuất huyết do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản :
25 mcg/giờ trong 5 ngày truyền tĩnh mạch liên tục. Sandostatin có thể đươc pha loãng với nước muối sinh lý.
- Điều trị ho ra máu :
- nhẹ (< 50 ml/24 giờ) : Sandostatin 0,05 mg hòa trong 5 ml NaCl 0,9% tiêm tĩnh mạch chậm hoặc tiêm dưới da.
- vừa : Sandostatin 0,05-0,20 mg tiêm dưới da hoặc nhỏ giot tĩnh mạch trong huyết thanh sinh lý NaCl 0,9%.
- nặng : dùng tiêm tĩnh mạch hoặc truyền nhỏ giot tĩnh mạch một hoặc nhiều lần trong ngày.
Lưu ý : Bệnh nhân tự tiêm thuốc dưới da phải nhận đươc sự hướng dẫn cụ thể từ bác sỹ hay y tá.
Để giảm các phản ứng tại chỗ cho bệnh nhân, dịch thuốc cần đạt tới nhiệt độ phòng trước khi tiêm.
Trường hơp tiêm nhiều lần cách nhau trong thời gian ngắn, cần tránh tiêm ở cùng một vị trí. Để tránh nhiễm bẩn, không chích qua nắp lo nhiều quá 10 lần (lo chứa nhiều liều).
Hiện chưa có tài liệu về khả năng dung nạp bị giảm hay cần thay đổi liều dùng ở người già đươc điều trị với Sandostatin.
Kinh nghiệm điều trị Sandostatine ở trẻ em còn rất hạn chế.
Ở bệnh nhân suy gan xuất huyết do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản, Sandostatin đươc dung nạp tốt với liều 50 mcg/giờ truyền tĩnh mạch liên tục trong 5 ngày.
QUÁ LIỀU
Hiện chưa có báo cáo nào về phản ứng phụ nguy hiểm đến tính mạng sau khi dùng quá liều đươc ghi nhận.
Liều đơn trị cao nhất cho tới nay cho một bệnh nhân người lớn là 1 mg tiêm tĩnh mạch nhanh. Các dấu hiệu và triệu chứng quan sát đươc là giảm nhịp tim, đỏ bừng mặt, đau bụng, ỉa chảy, cảm giác trống rỗng trong dạ dày và buồn nôn, hồi phục trong vòng 24 giờ sau khi dùng thuốc.
Một trường hơp đươc báo cáo là bệnh nhân đã tình cờ dùng thuốc Sandostatin quá liều do truyền liên tiếp (0,25 mcg/giờ trong 48 giờ thay vì 0,025 mcg/giờ). Bệnh nhân này không biểu hiện tác dụng phụ.
Xử trí quá liều chỉ gồm điều trị triệu chứng.
BẢO QUẢN
Bảo quản dài ngày, ống thuốc Sandostatin phải đươc giữ ở nhiệt độ 2-8°C và tránh ánh sáng. Đối với việc dùng thuốc hàng ngày có thể để thuốc ở nhiệt độ phòng trong 2 tuần.
TÁC DỤNG PHỤ: THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Do khối u tuyến yên bài tiết GH đôi khi có thể phát triển gây các biến chứng nặng (như giảm thị trường), cần theo dõi bệnh nhân cẩn thận. Nếu có các dấu hiệu khối u tăng kích thước, có thể lựa chon phương thức điều trị khác.
Sự hình thành sỏi mật đươc ghi nhận từ 10-20% bệnh nhân dùng Sandostatin trong thời gian dài. Kiểm tra siêu âm túi mật trước và trong quá trình điều trị Sandostatin mỗi 6-12 tháng là cần thiết. Nếu có sỏi mật thì thường không biểu hiện triệu chứng; sỏi mật có biểu hiện lâm sàng cần đươc điều trị theo phương pháp làm tan sỏi bằng acid mật hay phẫu thuật. Những thông tin khác có thể tham khảo từ Novartis.
Trong thời gian điều trị các khối u nội tiết đường tiêu hóa bằng Sandostatin, hiếm gặp trường hơp bột phát không kiềm chế đươc các triệu chứng với biểu hiện tái phát nhanh các biến chứng nặng.
Ở những bệnh nhân u đảo tụy, Sandostatin do có tác dụng ức chế bài tiết hormone tăng trưởng và glucagon tương đối mạnh hơn là insulin, và do thời gian ức chế insulin ngắn hơn, có thể làm tăng và kéo dài ở mức đường huyết cao hơn. Những bệnh nhân này cần đươc theo dõi chặt chẽ khi bắt đầu điều trị với Sandostatin và mỗi khi thay đổi liều dùng. Những biến đổi về nồng độ glucose trong máu có thể đươc hạn chế bằng việc dùng những liều nhỏ và thường xuyên hơn.
Đối với những bệnh nhân đái đường phụ thuộc insulin, có thể cần giảm lương insulin điều trị khi dùng kết hơp với Sandostatin.
Ở bệnh nhân xơ gan trong trường hơp xuất huyết có sự tăng nguy cơ đái đường phụ thuộc insulin tiến triển ở những người đã mắc bệnh này từ trước, việc theo dõi chặt chẽ nồng độ glucose trong máu là bắt buộc.
Đề nghị của công ty Novartis trong việc quản lý những bệnh nhân điều trị Sandostatin có thấy biểu hiện phát triển sỏi mật :
1. Bệnh nhân cần đươc khám siêu âm cơ bản về túi mật trước khi bắt đầu điều trị Sandostatin.
2. Khám siêu âm túi mật định kỳ, tốt nhất khoảng 6-12 tháng/lần trong quá trình điều trị với Sandostatin.
3. Nếu đã có sỏi trước khi bắt đầu điều trị, cần cân nhắc giữa lơi ích điều trị bằng Sandostatin với nguy cơ sỏi mật. Hiện tại chưa có chứng cứ về việc Sandostatin có thể tác động bất lơi đến tình trạng sỏi mật đã có từ trước ở bệnh nhân.
4. Quản lý bệnh nhân tiến triển sỏi mật liên quan đến Sandostatin :
i. Sỏi mật không biểu hiện triệu chứng : có thể ngừng hay tiếp tục điều trị Sandostatin tùy theo sự đánh giá lại giữa các yếu tố lơi ích/nguy cơ. Trong từng trường hơp, không cần xử trí gì trừ khi để tiếp tục theo dõi, với việc tăng số lần kiểm tra nếu cần thiết.
ii. Sỏi mật có triệu chứng : có thể ngừng thuốc hay tiếp tục điều trị với Sandostatin, tùy thuộc vào sự đánh giá lại giữa các yếu tố lơi ích/nguy cơ. Dù cách nào cũng cần điều trị như với các trường hơp sỏi mật có triệu chứng khác, bao gồm liệu pháp acid mật (như chenodeoxycholic acid [CDCA] 7,5mg/kg/ngày cùng với ursodeoxycholic acid [UDCA] 7,5mg/kg/ngày) kết hơp với theo dõi bằng siêu âm cho tới khi sỏi mật hoàn toàn biến mất.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Kinh nghiệm điều trị Sandostatin ở người có thai và cho con bú chưa thu thập đươc và người bệnh chỉ đươc dùng thuốc trong trường hơp bắt buộc.
Trong một nghiên cứu về tác dụng độc kéo dài 52 tuần ở chuột, chủ yếu trên chuột đực, sarcoma đươc ghi nhận tại vị trí tiêm thuốc chỉ với liều dùng cao nhất (khoảng 40 lần liều dùng cho người). Không thấy tổn thương tăng sản hay khối u tại vị trí tiêm dưới da tại nghiên cứu về độc tính trong vòng 52 tuần. Hiện không có báo cáo nào về sự tạo thành khối u ở vị trí tiêm ở bệnh nhân điều trị với Sadostatin trong thời gian tới 3 năm. Những thông tin hiện có cho rằng những phát hiện trên chuột là đặc biệt tùy theo loài và không có ý nghĩa trong việc dùng thuốc ở người.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Sandostatin làm giảm hấp thu ciclosporin đường tiêu hóa và làm chậm sự hấp thu cimetidine.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Các tác dụng phụ gặp phải khi điều trị Sandostatin thường là ở tại chỗ và đường tiêu hóa.
Phản ứng tại chỗ sau khi dùng thuốc qua đường dưới da bao gồm đau, nhạy cảm khi tiêm, cảm giác nhói hay nóng tại chỗ tiêm, sưng và đỏ. Các dấu hiệu này thường ít khi kéo dài quá 15 phút. Có thể làm giảm các tác dụng tại chỗ bằng cách để dịch thuốc lên tới nhiệt độ trong phòng trước khi tiêm hay tiêm với liều lương nhỏ hơn với dịch thuốc đặc hơn.
Các tác dụng ở đường tiêu hóa bao gồm chán ăn, buồn nôn, nôn, đau quặn bụng, chướng bụng, đầy hơi, phân lỏng, ỉa chảy, đi ngoài phân mỡ. Dù lương mỡ đào thải qua phân có thể tăng, hiện chưa thấy có bằng chứng về việc điều trị lâu dài với Sandostatin có thể dẫn tới suy dinh dưỡng do giảm hấp thu. Trong một số ít trường hơp có thể có các triệu chứng giống tắc ruột như chướng bụng, đau bụng cơn, nhạy cảm đau khi ấn. Có thể làm giảm các tác dụng phụ nhờ tránh ăn ở quanh thời điểm dùng thuốc, tiêm thuốc ở khoảng giữa các bữa ăn hay khi đi ngủ.
Điều trị lâu dài Sandostatin có thể tạo nên sỏi mật (xem phần Thận trong lúc dùng).
Do tác dụng kiềm chế sự giải phóng hormone tăng trưởng, glucagon và insulin, Sandostatin có thể làm ảnh hưởng đến sự điều hòa glucose. Dung nạp của glucose có thể bị ảnh hưởng và, trong một số trường hơp, việc dùng thuốc kéo dài có thể làm tăng đường huyết dai dẳng. Hạ đường huyết cũng có thể đươc ghi nhận. Hiếm gặp rụng tóc ở bệnh nhân điều trị với Sandostatin.
Hiếm gặp trường hơp viêm tụy cấp. Thường thấy tác dụng phụ này xuất hiện trong vòng vài giờ hay vài ngày đầu điều trị Sandostatin và hết sau khi ngừng thuốc. Ngoài ra, viêm tụy cấp có thể gặp ở bệnh nhân điều trị Sandostatin lâu dài có phát triển sỏi mật.
Trường hơp cá biệt có ghi nhận sự rối loạn chức năng gan do thuốc. Các biểu hiện này bao gồm :
- viêm gan cấp không kèm theo ứ mật và chỉ số transaminase sẽ trở về bình thường khi ngừng thuốc
- tăng bilirubin huyết chậm kèm với sự tăng alkaline phosphatase, g-glutamyl transferase và ở mức độ thấp hơn, transaminase.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Quá mẫn với thuốc hoặc với các thành phần có trong hơp chất.

Leave a Reply