Sandimmun Neoral 25mg

Sandimmun NeoralHÃNG SẢN XUẤT: Novartis
NHÓM THUỐC: Miễn dịch
THÀNH PHẦN: viên nang mềm 25 mg : hộp 50 viên – Bảng A.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Ciclosporine 25 mg
DƯỢC LƯC
Ciclosporine (hay ciclosporine A) là một polypeptide vòng gồm 11 acid amin có tác dụng ức chế miễn dịch ; trên súc vật, ciclosporine kéo dài thời gian sống của các cơ quan dị ghép (da, tim thận, tụy tạng, tủy xương, ruột non hay phổi). Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy ciclosporine có tác dụng ức chế :
- sự phát triển các phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào.
- sự tạo ra và phóng thích các lymphokine, nhất là interleukine-2.
Những chứng cớ có đươc cho thấy ciclosporine tác dụng một cách đặc hiệu và thuận nghịch trên lympho bào. Khác với các chất kìm tế bào, ciclosporine không làm suy giảm sự tạo máu và không ảnh hưởng đến chức năng của các thực bào. Bệnh nhân điều trị bằng Sandimmun Neoral sẽ ít bị nhiễm trùng hơn bệnh nhân điều trị bằng các thuốc miễn dịch khác.
Việc ghép cơ quan đặc và tủy xương đã đươc thực hiện thành công trên người, bằng cách dùng Sandimmun Neoral để ngừa và điều trị sự thải mảnh ghép và bệnh ghép chống lại vật chủ. Sandimmun Neoral cũng có tác dụng tốt trong điều trị một số bệnh đươc biết đến, hay đươc coi như có nguồn gốc tự miễn.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Sau khi uống Sandimmun Neoral (viên nang hay dung dịch uống), nồng độ đỉnh trong máu đạt đươc trong vòng 1 đến 6 giờ. Độ khả dụng sinh hoc tuyệt đối của dạng uống là 20% đến 50% ở trạng thái bền vững.
Ciclosporine đươc phân phối rộng rãi ngoài thể tích máu. Trong máu, 33 đến 47% hiện diện trong huyết tương, 4 đến 9% trong lympho bào, 5 đến 12% trong tế bào hạt, và 41 đến 58% trong hồng cầu. Trong huyết tương, khoảng 90% gắn vào protein nhất là lipoprotein.
Ciclosporine bị biến đổi thành phần 15 chất chuyển hóa. Không có đường chuyển hóa nào là chính. Thuốc đươc thải chủ yếu qua mật, chỉ 6% liều uống vào đươc thải qua nước tiểu ; 0,1% đươc thải ra nước tiểu dưới dạng thuốc không thay đổi.
Sự bán thải cuối cùng từ máu là vào khoảng 19 giờ, không tương ứng với liều hoặc đường sử dụng.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Ghép các cơ quan :
- Đề phòng thải ghép (nhất là thận, tim và phổi, gan, tụy) : Sandimmun có thể dùng riêng hoặc kết hơp với liều nhỏ corticoid, với liều nhỏ azathioprine (xem phần Thận trong lúc dùng).
- Điều trị chống thải ghép trên các bệnh nhân đã đươc điều trị bằng các phác đồ ức chế miễn dịch khác.
Ghép tủy xương :
- Điều trị dự phòng hoặc điều trị mảnh ghép chống vật chủ.
Điều trị các bệnh tự miễn :
- Viêm màng bồ đào nội sinh – Bệnh Behcet Uveitis.
- Hội chứng thận hư phụ thuộc steroid và kháng steroid.
- Viêm khớp dạng thấp.
- Lupus ban đỏ hệ thống.
- Vẩy nến.
- Chàm thể tạng.
CÁCH DÙNG: Ghép cơ quan :
12 giờ trước khi phẫu thuật, bắt đầu bằng liều uống 10-15 mg/kg Sandimmun Neoral, chia làm 2 lần cách xa nhau. Sau đó, dùng tiếp tục mỗi ngày liều này trong vòng 2 tuần sau khi phẫu thuật, sau đó tùy theo nồng độ trong máu, giảm liều từ từ cho tới liều duy trì từ 2 đến 6 mg/kg/ngày. Liều dùng hàng ngày phải đươc chia làm 2 lần cách xa nhau.
Khi mà Sandimmun Neoral đươc dùng chung với các thuốc ức chế miễn dịch khác (với corticoid hoặc trong một phối hơp 3 hoặc 4 thuốc chẳng hạn), có thể dùng liều thấp hơn (chẳng hạn 3-6 mg/kg/ngày bằng đường uống trong điều trị tấn công).
Ghép tủy xương :
Liều khởi đầu phải đươc dùng một ngày trước khi phẫu thuật ghép, trong đa số trường tốt nhất nên khởi đầu bằng tiêm truyền tĩnh mạch với liều từ 3-5 mg/kg/ngày, liên tục trong 2 tuần lễ đầu. Sau đó tiếp tục bằng Sandimmun Neoral uống 12,5 mg/kg/ngày. Trường hơp khởi đầu bằng dạng uống, liều đề nghị từ 12,5-15 mg/kg/ngày, bắt đầu một ngày trước khi phẫu thuật ghép.
Việc điều trị đươc tiếp tục cho đến liều duy trì khoảng 12,5 mg/kg/ngày Sandimmun Neoral trong vòng ít nhất 3-6 tháng (nên kéo dài đến 6 tháng). Sau đó giảm dần liều đến zero trong vòng một năm sau phẫu thuật.
Nếu có rối loạn tiêu hóa có thể làm giảm sự hấp thu thuốc, nên tăng liều uống lên cao hoặc có thể dùng đường tiêm tĩnh mạch.
Liều hàng ngày của Sandimmun Neoral phải đươc chia ra làm 2 lần cách xa nhau.
Ở một vài bệnh nhân, GVDH (Graft versus host disease) xảy ra sau khi ngưng điều trị bằng Sandimmun Neoral. Trường hơp này đươc cải thiện khi dùng trở lại việc điều trị. Dùng liều thấp để điều trị GVDH nhẹ và mãn tính.
Viêm màng bồ đào nội sinh :
Để tạo giai đoạn lui bệnh, khởi đầu uống 5 mg/kg/ngày chia làm 2 lần cho đến khi triệu chứng viêm cấp tính ở màng bồ đào giảm đi và thị lực đươc cải thiện. Trong những trường hơp không đáp ứng, có thể tăng liều lên đến 7 mg/kg/ngày trong một thời gian giới hạn.
Để đạt sự lui bệnh lúc đầu, hoặc có thể chống lại những cơn viêm ở mắt, có thể kết hơp thêm corticoid toàn thân với liều 0,2-0,6 mg/kg/ngày hay thuốc tương đương nếu một mình Sandimmun Neoral không đủ hữu hiệu để kiểm soát bệnh. Để điều trị duy trì, nên giảm dần liều đến mức thấp nhất có hiệu quả, và liều này, trong giai đoạn thuyên giảm, không vươt quá 5 mg/kg/ngày.
Hội chứng thận hư :
Để tạo sự thuyên giảm, nên uống ngày 2 lần, người lớn 5 mg/kg/ngày, và trẻ con 6 mg/kg/ngày, nếu chức năng thận bình thường ; ngoại trừ protein niệu. Trên bệnh nhân bị suy chức năng thận, liều khởi đầu không đươc quá 2,5 mg/kg/ngày. Nên phối hơp Sandimmun Neoral với liều thấp corticoid uống nếu Sandimmun Neoral riêng lẻ không đủ hiệu nghiệm.
Sau 3 tháng điều trị, nếu bệnh không tiến triển tốt, nên ngừng điều trị Sandimmun Neoral. Cần điều chỉnh cho từng cá nhân tùy theo sự hiệu nghiệm (protein niệu), và độ an toàn (nhất là creatinin huyết thanh) nhưng không đươc quá 5 mg/kg/ngày cho người lớn và 6 mg/kg/ngày cho trẻ con.
Để điều trị duy trì, liều nên giảm dần đến mức thấp nhất có hiệu quả.
Viêm khớp dạng thấp :
Trong 6 tuần đầu, nên dùng liều 3 mg/kg/ngày. Uống chia làm 2 lần. Nếu vẫn chưa đủ để có hiệu quả, tăng dần liều lên đến khi sự dung nạp cho phép, nhưng không đươc quá 5 mg/kg. Để đạt đươc hiệu quả tron vẹn, có thể điều trị Sandimmun Neoral đến 12 tuần.
Để điều trị duy trì, liều cần điều chỉnh cho từng cá nhân tùy sự dung nạp.
Sandimmun Neoral có thể đươc dùng kết hơp với corticoid liều thấp và/hoặc thuốc kháng viêm không steroid.
Bệnh vẩy nến :
Để tạo sự thuyên giảm, khởi đầu nên uống 2,5 mg/kg/ngày chia làm 2 lần. Sau 1 tháng, nếu bệnh không tiến triển tốt có thể tăng dần liều, nhưng không đươc quá 5 mg/kg/ngày.
Nên ngưng điều trị ở bệnh nhân đã chữa 6 tuần với liều 5 mg/kg/ngày mà các sang thương vẩy nến vẫn chưa đáp ứng tốt, hay những bệnh nhân mà liều có hiệu quả của ho không phù hơp với những nguyên tắc an toàn.
Liều khởi đầu 5 mg/kg/ngày cho những bệnh nhân cần cải thiện bệnh nhanh.
Để duy trì, liều phải định chuẩn cho từng cá nhân ở mức thấp nhất có hiệu quả và không đươc quá 5 mg/kg/ngày.
Chú ý :
Vì Sandimmun Neoral có thể làm suy giảm chức năng thận nên cần phải đánh giá chức năng thận thường xuyên và nếu creatinin huyết tương tăng 30% so với trước điều trị sau nhiều lần xét nghiệm thì phải giảm liều Sandimmun Neoral từ 25-50%.
Với những bệnh nhân có chức năng thận không bình thường trước khi điều trị thì nên dùng liều khởi đầu 2,5 mg/kg/ngày và theo dõi cẩn thận.
Cần xác định nồng độ creatinin trong máu ít nhất 2 lần trước khi điều trị và theo dõi 2 tuần 1 lần trong 3 tháng đầu điều trị. Sau đó có thể định lương 4 tuần một lần, nhưng cần kiểm tra thường xuyên hơn nếu dùng liều Sandimmun Neoral tăng lên hoặc phối hơp với các thuốc chống viêm không steroid.
Theo dõi đều đặn huyết áp trong thời gian điều trị bằng Sandimmun Neoral. Nếu có hiện tương tăng huyết áp, nên dùng thuốc hạ huyết áp. Cần chú ý khi điều trị ở những bệnh nhân có tăng acid uric trong máu.
Những bệnh nhân có chức năng thận không bình thường, có huyết áp cao không kiểm soát đươc bằng thuốc, có nhiễm trùng nặng hoặc đang có những bệnh ác tính thì không nên dùng Sandimmun Neoral.
TÁC DỤNG PHỤ: THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Bác sĩ chỉ nên cho Sandimmun Neoral khi có kinh nghiệm trong điều trị bằng chất ức chế miễn dịch và có thể theo dõi đầy đủ, kể cả tái khám tổng thể đều đặn, đo huyết áp và kiểm tra các thông số an toàn trong xét nghiệm.
Không nên cho Sandimmun Neoral cùng với các chất ức chế miễn dịch khác (ngoại trừ corticoid), vì có nguy cơ bị ức chế miễn dịch quá mức, và điều này khiến cho bệnh nhân dễ bị nhiễm trùng hay dễ bị u lympho.
Một biến chứng nặng và thường xảy ra là tăng creatinin và urê huyết thanh, có thể xuất hiện trong vài tuần đầu điều trị bằng Sandimmun Neoral. Những biến đổi chức năng này tùy thuộc liều và khả hồi, thường có đáp ứng khi giảm liều. Trong điều trị dài hạn, một số bệnh nhân có thể bị những biến đổi trong cấu trúc của thận (thí dụ như xơ hóa mô kẽ). Sandimmun Neoral cũng có thể gây tăng bilirubine huyết thanh và đôi khi, tăng enzyme ở gan, nhưng sự tăng này cũng tùy thuộc liều và khả hồi.
Trong thời gian điều trị bằng Sandimmun Neoral, cần theo dõi đều đặn huyết áp, nếu cao huyết áp xảy ra, phải điều trị thích hơp trường hơp này.
Trong vài trường hơp hiếm, vì Sandimmun Neoral có thể gây tăng nhẹ và khả hồi lipid máu, nên cần xác định lương lipid trước khi điều trị. Nếu lipide tăng, nên giới hạn việc ăn chất béo và nếu cần, nghĩ đến việc giảm liều.
Bệnh nhân đang dùng Sandimmun Neoral nên tránh những thức ăn có nhiều kali và không nên dùng thuốc có chứa kali hay thuốc lơi tiểu giữ kali.
Vì Sandimmun Neoral đôi khi gây tăng kali máu hay làm nặng thêm tình trạng tăng kali máu đã có trước đó, nên theo dõi lương kali huyết thanh, nhất là đối với những bệnh nhân bị suy thận nặng.
Nên thận trong khi điều trị bệnh nhân bị acid uric trong máu tăng cao.
Trong thời gian điều trị bằng Sandimmun Neoral, chủng ngừa có thể ít có hiệu quả và nên tránh sử dụng loại thuốc chủng có vi sinh vật còn sống đã làm suy yếu đi.
LÚC CÓ THAI
Ciclosporine không gây quái thai trên sinh vật. Tuy nhiên, kinh nghiệm về Sandimmun Neoral trên phụ nữ có thai hãy còn giới hạn. Các dữ kiện có đươc trên người nhận cơ quan ghép cho thấy rằng, so với điều trị cổ điển, điều trị bằng Sandimmun Neoral không làm tăng nguy cơ bị tác dụng phụ trong thai kỳ và lúc sinh.
LÚC NUÔI CON BÚ
Tránh dùng ciclosporine ở phụ nữ đang cho con bú (vì thuốc bài tiết qua sữa).
TƯƠNG TÁC THUỐC
Nên thận trong khi sử dụng Sandimmun Neoral cùng với những thuốc gây độc cho thận, thí dụ như aminoglycoside, amphotéricine B, melphalan và triméthoprime.
Vì thuốc kháng viêm không steroid một mình nó có thể có tác dụng phụ trên chức năng thận, nên việc kết hơp những thuốc này với Sandimmun Neoral hoặc việc tăng liều của chúng, trước tiên cần phải theo dõi thật sát về chức năng thận.
Sandimmun Neoral có thể làm tăng khả năng của lovastatin và colchicine, gây độc cho cơ thể, kể cả đau và yếu cơ. Nên cân nhắc kỹ khi sử dụng Sandimmun Neoral với những thuốc này. Những thuốc đươc biết là làm tăng nồng độ ciclosporine trong huyết tương hoặc trong máu toàn phần gồm có : ketoconazole, một số kháng sinh như macrolid, erythromycine, josamycine, doxycycline, thuốc ngừa thai, propafenone và một số thuốc ức chế calci như diltiazem, nicardipine và verapamil. Vì nifedipine có thể gây tăng sinh lơi, nên tránh dùng nifedipine cho những bệnh nhân đã bị phì đại lơi khi điều trị bằng Sandimmun Neoral. Những thuốc đươc biết là làm giảm nồng độ ciclosporine trong huyết tương hoặc trong máu toàn phần gồm : barbiturate, carbamazepine, phenytoin, metamizole, rifampicine, nafcilline, sulfadimidine và trimethoprime tiêm tĩnh mạch (không phải uống). Nếu không thể tránh sự kết hơp thì phải theo dõi cẩn thận nồng độ ciclosporine trong máu và điều chỉnh liều Sandimmun Neoral cho thích hơp.
Sandimmun Neoral đươc nhận thấy là làm giảm sự thanh thải prednisolone và ngươc lại, dùng liều cao methylprednisolone có thể làm tăng nồng độ của ciclosporine trong máu.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Tác dụng phụ thường tùy thuộc liều và giảm đi khi giảm liều. Thường gặp nhất là rậm lông, run, rối loạn chức năng thận, tăng huyết áp (nhất là trên bệnh nhân ghép tim), rối loạn chức năng gan, mệt mỏi, phì đại lơi, rối loạn tiêu hóa (kém ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy), cảm giác nóng ở tay và chân (thường trong những tuần đầu điều trị).
Đôi khi nhức đầu, ban có thể do dị ứng, thiếu máu nhẹ, kali máu tăng cao, tăng acid uric trong máu, magne máu giảm, tăng cân, phù, viêm tụy, dị cảm, co giật, đau kinh hay vô kinh khả hồi.
Đặc biệt trên bệnh nhân ghép gan, những dấu hiệu của bệnh não, rối loạn thị giác, cử động và rối loạn tri giác đã đươc mô tả. Dù những biến đổi này có phải do Sandimmun Neoral gây ra hay không, vẫn cần phải để ý đến căn bệnh cơ bản và những điều kiện khác.
Hiếm khi gây co cứng cơ, yếu cơ, bệnh cơ.
Trong vài trường hơp, hiếm giảm tiểu cầu.
Bệnh ác tính và tăng sinh lympho cũng có xảy ra, nhưng tần suất và sự phân phối cũng tương đương như bệnh nhân điều trị bằng chất miễn dịch kinh điển.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Mẫn cảm với ciclosporine.

Leave a Reply