Roféron-A 3MUI

imageHÃNG SẢN XUẤT: Hoffmann – La Roche
NHÓM THUỐC: Gan mật
THÀNH PHẦN: bột pha tiêm bắp, dưới da 3 MUI : lo bột + ống dung môi 1 ml + ống tiêm + 2 kim tiêm – Bảng A.
THÀNH PHẦN
cho 1 lo
Interféron alpha-2a đông khô 3 MUI
(Albumine huyết thanh người) (5 mg)
TÍNH CHẤT
Mô tả :
Mỗi lo chứa :
- Bột Interféron alpha-2a đông khô 3 ; 4,5 ; 9 ; 18 MUI.
- Natri clorua 9 mg.
- Albumine huyết thanh người 5 mg.
Dung dịch đươc pha chế trước khi dùng bằng cách thêm 1 ml nước vô trùng để tiêm. Interféron alpha-2a là một protéine vô trùng đươc tinh chế chứa 165 acide amine.
Roféron-A có trong lương phân tử khoảng 19 000 Dalton. Thuốc đươc sản xuất bằng kỹ thuật tái tổ hơp ADN (dùng dòng E. coli có chứa ADN mã hóa cho việc sản xuất Interféron người như một nhà máy di truyền). Roféron-A đươc cung cấp ở dạng bột vô trùng để pha tiêm một lần.
Tác động dươc hoc :
Roféron-A có nhiều tác động giống như các chế phẩm đươc goi là alpha-Interféron người tự nhiên.
Cơ chế chủ yếu về tác động chống ung thư của Roféron-A chưa đươc biết rõ. Tuy nhiên Roféron-A đã cho thấy tác dụng chống tăng sinh trên một số u bướu ở người in vitro và ức chế sự phát triển của một số ca ghép bướu người lên chuột. Mức độ tác dụng chống tăng sinh thay đổi. Không giống như những protéine người khác, nhiều tác dụng của Interféron alpha-2a bị ức chế một phần hay toàn bộ khi thuốc đươc thử nghiệm trên những loài động vật khác. Tuy nhiên, ở khỉ Rhesus đươc điều trị bằng Roféron-A trước đó vẫn có xuất hiện hoạt tính đáng kể chống virus đậu bò. Do tính đặc hiệu theo loài của Interféron người, chỉ có các nghiên cứu giới hạn trên độc tính hoc đươc thực hiện với Roféron-A. Độc tính khi dùng Roféron-A đường tiêm đã đươc nghiên cứu trên chuột, thỏ, ở liều lên đến 30 MUI/kg tiêm mạch và 500 MUI/kg tiêm bắp. Không có tử vong nào liên quan đến điều trị đươc ghi nhận ở bất kỳ loài nào đươc dùng Roféron-A bằng moi con đường cho thuốc. Với liều quá lớn vươt quá liều đề nghị trên lâm sàng, không có một tác dụng phụ nào đáng kể ngoại trừ tác dụng gây sẩy thai khi dùng cho khỉ Rhesus mang thai trong giai đoạn phôi giữa và các rối loạn chu kỳ kinh nguyệt thóang qua bao gồm các giai đoạn kinh nguyệt kéo dài ở khỉ không mang thai.
Tác dụng dươc động hoc :
Nồng độ trong huyết thanh của Interféron alpha-2a (tái tổ hơp) cho thấy có một sự thay đổi rất lớn giữa những người khác nhau, ở cả những người tình nguyện khỏe mạnh và những bệnh nhân bị ung thư lan tỏa.
Ở người mạnh khỏe, Interféron alpha-2a có thời gian bán hủy là 3,7-8,5 giờ (trung bình 5,1 giờ). Thể tích phân phối thuốc ở trạng thái ổn định là 0,223-0,748 l/kg (trung bình 0,400 l/kg). Độ thanh thải toàn bộ trong cơ thể là 2,14-3,62 ml/phút/kg (trung bình 2,79 ml/phút/kg) sau khi truyền tĩnh mạch 36 MUI thuốc (2,2 x 106 pg). Sau khi tiêm bắp và tiêm dưới da 36 MUI, nồng độ đỉnh trong huyết thanh vào khoảng 1500-2580 pg/ml (trung bình 2020 pg/ml) đạt đươc sau thời gian trung bình là 3,8 giờ. Sau thời gian trung bình 7,3 giờ, nồng độ trong huyết tương là 1250-2320 mcg/ml (trung bình 1730 mcg/ml). Lương thuốc có hiệu quả đạt đươc sau khi tiêm bắp là trên 80%.
Dươc động hoc của Interféron alpha-2a sau liều tiêm bắp duy nhất ở những bệnh nhân bị ung thư lan tỏa giống với dươc động hoc ở những người tình nguyện mạnh khỏe. Nồng độ thuốc trong huyết thanh tương ứng với liều lương đươc quan sát thấy sau khi cho liều duy nhất lên đến 198 MUI. Không có sự thay đổi gì về phân phối và thải trừ thuốc Interféron alpha-2a khi dùng 2 lần/ngày (0,5-36 MUI), 1 lần/ngày (1-54 MUI), hoặc 3 lần/tuần (1-136 MUI) trong 28 ngày dùng thuốc. Tuy nhiên dùng Interféron alpha-2a liều duy nhất trong vài ngày hoặc vài liều/ngày gây ra sự tích tụ 2-4 lần nồng độ trong huyết thanh liều duy nhất.
Tác dụng sinh biến dị gène :
Tác dụng gây biến dị của Roféron-A chưa đươc ghi nhận trên thực nghiệm.
Tác dụng chống u của Roféron-A đã đươc mô tả ở những bệnh nhân bị bệnh bạch huyết tế bào tóc hoặc Sarcome Kaposi ở những bệnh nhân giảm miễn dịch.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: – Bệnh bạch cầu tế bào tóc.
- Sarcome Kaposi kết hơp với hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (SIDA) mà không có nhiễm trùng cơ hội trước đó.
- Bệnh bạch cầu mạn dòng tủy, giai đoạn mạn tính có nhiễm sắc thể Philadelphia dương tính. Hiệu quả điều trị tích cực của Roféron-A trong chỉ định này còn chưa đươc chứng minh.
- Ung thư hạch tế bào T có biểu hiện ngoài da, giai đoạn tiến triển, ở những bệnh nhân không đáp ứng hoặc đề kháng với điều trị cổ điển.
- U sắc tố ác tính lan tỏa.
- Ung thư thận di căn hoặc tái phát.
- Điều trị duy trì bệnh đa u tủy giai đoạn ổn định hoặc giai đoạn bệnh không tiến triển sau khi điều trị tấn công bằng hóa trị liệu.
- Viêm gan siêu vi B mạn tính thể tấn công ở người trưởng thành, đươc chứng minh bằng mô hoc, có tăng virus B kéo dài đươc chứng minh bằng hàm lương ADN của virus B huyết thanh. Xét nghiệm này đươc làm 2 lần cách nhau ít nhất 2 tháng, trong đó xét nghiệm lần một sẽ đươc làm trong tháng trước khi bắt đầu điều trị.
- Viêm gan siêu vi không A-không B (viêm gan siêu vi C) mạn tính thể tấn công, đươc chứng minh bằng mô hoc, kèm theo tăng transaminase huyết thanh mà không có xơ gan mất bù. Tác dụng trước mắt là làm giảm hoạt tính của bệnh, tác dụng lâu dài thì chưa có bằng chứng về hiệu quả của Roféron-A trên các triệu chứng lâm sàng hay mô hoc.
CÁCH DÙNG: Bệnh bạch cầu tế bào tóc : Liều đầu : 3 MUI dùng mỗi ngày tiêm dưới da hoặc tiêm bắp trong 16-24 tuần. Trường hơp không dung nạp đươc thuốc thì giảm liều còn 1,5 MUI/ngày, hoặc là giảm số lần tiêm còn 3 lần/tuần.
Liều duy trì : 3 MUI 3 lần/tuần tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Trường hơp không dung nạp, liều hằng ngày sẽ giảm đến 1,5 MUI 3 lần/tuần.
Thời gian điều trị : các bệnh nhân phải đươc điều trị trong khoảng 6 tháng trước khi bác sĩ quyết định nên tiếp tục theo đuổi điều trị ở những bệnh nhân có đáp ứng hoặc quyết định ngưng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng. Nhiều bệnh nhân đã đươc điều trị trong hơn 20 tháng liên tiếp. Thời gian điều trị tối ưu của Roféron-A chưa đươc xác định.
Ghi chú : nên tiêm dưới da ở những bệnh nhân có giảm tiểu cầu (tiểu cầu < 50 - 109/l) hoặc ở những bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết.
Liều Roféron-A thấp nhất có hiệu quả chưa đươc xác định.
Bệnh Sarcome Kaposi kết hơp với SIDA mà không có nhiễm trùng cơ hội trước đó : Liều tối ưu còn chưa xác định. Các bệnh nhân bị Sarcome Kaposi kết hơp SIDA sẽ đáp ứng tốt hơn với điều trị Roféron-A nếu không có nhiễm trùng cơ hội trước đó, không có những triệu chứng của type B (sụt cân > 10%, sốt > 30°C mà không rõ nguồn gốc nhiễm trùng, vã mồ hôi về đêm), và nếu số lymphocyte T ban đầu > 200 /mm3.
Điều trị tấn công : Roféron-A nên tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Liều lương ít nhất là 18 MUI/ngày, và nếu có thể thì 36 MUI/ngày. Liều này sẽ đạt đươc bằng cách tăng liều dần. Thời gian điều trị là 10-12 tuần đối với bệnh nhân > 18 tuổi.
Phác đồ tăng liều như sau :
Ngày 1-3 : 3 MUI/ngày
Ngày 4-6 : 9 MUI/ngày
Ngày 7-9 : 18 MUI/ngày.
Nếu bệnh nhân vẫn dung nạp tốt, liều có thể tăng đến : ngày 10-84 : 36 MUI/ngày.
Điều trị duy trì : nên tiêm Roféron-A dưới da hoặc tiêm bắp 3 lần/tuần với liều tối đa mà bệnh nhân có thể dung nạp nhưng không vươt quá 36 MUI.
Tỷ lệ đáp ứng khi điều trị duy trì liều 3 MUI/ngày Roféron-A ở những bệnh nhân Sarcome Kaposi thấp hơn tỷ lệ đáp ứng ở những bệnh nhân đươc điều trị theo liều đề nghị ở trên.
Thời gian điều trị : Tiến triển của tổn thương sẽ giúp đánh giá đáp ứng khách quan với điều trị.
Các bệnh nhân phải đươc điều trị ít nhất 10 tuần trước khi bác sĩ quyết định nên tiếp tục theo đuổi điều trị ở những bệnh nhân có đáp ứng hoặc quyết định ngưng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng. Thông thường các bệnh nhân cho thấy có đáp ứng sau khoảng 3 tháng điều trị. Nhiều bệnh nhân đã đươc điều trị trong hơn 20 tháng liên tiếp. Nếu bệnh nhân đáp ứng với điều trị thì nên tiếp tục điều trị cho đến khi không còn thấy đươc các tổn thương khách quan. Thời gian điều trị tối ưu của Roféron-A chưa đươc xác định.
Ghi chú : các tổn thương Sarcome Kaposi thường tái xuất hiện sau khi ngưng điều trị với Roféron-A.
Bệnh bạch cầu mạn dòng tủy, giai đoạn mạn tính, có nhiễm sắc thể Philadelphia dương tính : Hiệu quả của Roféron-A chưa đươc chứng minh rõ ràng trong chỉ định này.
Điều trị Roféron-A cho phép đạt đươc tình trạng lui bệnh về huyết hoc ở 60% bệnh nhân trong giai đoạn mạn tính của bệnh bạch cầu mạn dòng tủy bất kể điều trị trước đó là gì. Ở 2/3 số bệnh nhân này sẽ có đáp ứng hoàn toàn về huyết hoc và điều này có thể xuất hiện 18 tháng sau khi bắt đầu điều trị.
Khác với điều trị bằng hóa liệu pháp có độc tính trên tế bào, Roféron-A có thể gây ra những đáp ứng về gène tế bào ổn định và kéo dài hơn 40 tháng.
Cách điều trị : tiêm dưới da hay tiêm bắp Roféron-A trong 8-12 tuần ở những bệnh nhân > 18 tuổi với phác đồ như sau :
Ngày 1-3 : 3 MUI/ngày
Ngày 4-6 : 6 MUI/ngày
Ngày 7-84 : 9 MUI/ngày.
Thời gian điều trị : các bệnh nhân phải đươc điều trị ít nhất 8 tuần, hoặc tốt hơn là 12 tuần trước khi bác sĩ quyết định nên tiếp tục theo đuổi điều trị ở những bệnh nhân đáp ứng hoặc quyết định ngưng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng. Tất cả các bệnh nhân có lui bệnh về huyết hoc hoàn toàn phải đươc tiếp tục điều trị với liều 9 MUI/ngày (tối ưu) hoặc 9 MUI 3 lần/tuần (tối thiểu) tùy theo đạt đươc đáp ứng về gène tế bào nhanh nhất có thể đươc. Thời gian điều trị tối ưu của Roféron-A chưa đươc xác định, mặc dù đáp ứng về gène tế bào xuất hiện trong 2 năm sau khi bắt đầu điều trị.
Cách dùng, hiệu quả và liều lương tối ưu của Roféron-A ở trẻ em chưa đươc xác định.
Ung thư hạch tế bào T có biểu hiện da : Roféron-A có thể hiệu quả ở những bệnh nhân bị ung thư hạch tế bào T có biểu hiện da, giai đoạn tiến triển, khi bệnh không thuyên giảm hoặc không đáp ứng với điều kiện cổ điển.
Điều trị tấn công : tiêm dưới da hay tiêm bắp tăng liều dần đến 18 MUI/ngày trong thời gian tổng cộng là 12 tuần ở người > 18 tuổi.
Phác đồ tăng liều như sau :
Ngày 1-3 : 3 MUI/ngày
Ngày 4-6 : 9 MUI/ngày
Ngày 7-84 : 18 MUI/ngày
Điều trị duy trì : tiêm dưới da hay tiêm bắp 3 lần/tuần với liều tối đa mà bệnh nhân có thể dung nạp đươc, nhưng không vươt quá 18 MUI/ngày.
Thời gian điều trị : bệnh nhân phải đươc điều trị ít nhất 8 tuần, tốt hơn là 12 tuần, trước khi bác sĩ quyết định tiếp tục hay ngưng điều trị.
Nhiều bệnh nhân đã đươc điều trị trong khoảng thời gian lên đến 40 tháng liên tiếp.
Thời gian điều trị tối ưu chưa đươc xác định.
Thận trong : không có đáp ứng khách quan về bướu ở khoảng 40% bệnh nhân bị ung thư hạch tế bào T có biểu hiện da. Đáp ứng một phần thường xuất hiện trong 3 tháng và đáp ứng hoàn toàn thường xuất hiện trong 6 tháng mặc dù thường cần tối thiểu 1 năm mới đạt đươc đáp ứng tối ưu.
U sắc tố ác tính lan tỏa :
Điều trị tấn công : 10 MUI/m2 da/ngày (18 MUI) tiêm bắp 3 lần/tuần trong 2-3 tháng. Thời gian điều trị tấn công ít nhất là một tháng, là thời gian tối thiểu để có thể đánh giá lơi ích của việc điều trị. Nhưng trong trường hơp bệnh tiến triển nặng thì sẽ ngưng điều trị tấn công.
Điều trị duy trì : trong trường hơp có đáp ứng với điều trị tấn công, nên tiếp tục điều trị với liều lương như giai đoạn tấn công, cho đến khi ngưng cải thiện và bệnh nhân ổn định trong ít nhất 1 tháng.
Ung thư thận di căn hoặc tái phát :
- Roféron-A kết hơp với Vinblastine :
Điều trị tấn công : Roféron-A 10 MUI/m2/ngày tiêm bắp 3 lần/tuần trong 1 tháng. Thời gian điều trị tấn công ít nhất là 1 tháng, là thời gian tối thiểu để quyết định ngưng hay điều trị tiếp. Trong trường hơp bệnh tiến triển nặng hơn thì sẽ ngưng điều trị tấn công.
Điều trị duy trì : cùng phác đồ như trên, thời gian kéo dài ít nhất 6 tháng.
- Tuy nhiên, trong vài trường hơp, sự kết hơp Roféron-A và Vinblastine không thể thực hiện đươc và phải xét đến việc điều trị Roféron-A đơn hóa trị như sau :
Điều trị tấn công : Roféron-A 10 MUI/m2/ngày (hoặc 18 MUI/ngày) tiêm dưới da hay tiêm bắp. Liều này sẽ đạt đươc bằng cách dùng Roféron-A tăng liều dần :
Ngày 1-3 : 3 MUI/ngày
Ngày 4-6 : 9 MUI/ngày
Sau đó : 18 MUI/ngày
Nếu bệnh nhân dung nạp đươc, liều Roféron-A có thể tăng lên đến liều tối đa là 36 MUI. Thời gian điều trị tấn công ít nhất là 3 tháng, là thời gian tối thiểu để quyết định tiếp tục hay ngưng điều trị. Trong trường hơp bệnh tiến triển nặng thì sẽ ngưng điều trị tấn công.
Điều trị duy trì : cùng liều lương như trong điều trị tấn công nhưng số lần tiêm là 3 lần/tuần. Thời gian điều trị duy trì ít nhất là 6 tháng.
Điều trị duy trì bệnh đa u tủy giai đoạn ổn định hoặc giai đoạn bệnh ngưng tiến triển sau hóa trị tấn công :
Liều Roféron-A là 3 MUI/m2 da, tiêm dưới da 3 lần/tuần.
Viêm gan siêu vi B mạn tính thể tấn công : Roféron-A đươc chỉ định trong viêm gan siêu vi B mạn tính thể tấn công ở người lớn, kèm theo các dấu hiệu tăng sinh của virus như HBV-DNA, DNA polymerase hoặc kháng nguyên HBe dương tính.
Phác đồ tối ưu để điều trị viêm gan siêu vi B mạn tính thể tấn công chưa đươc xác định. Liều thường dùng là khoảng 2,5-5 MUI/m2 da, tiêm dưới da 3 lần/tuần trong 4-6 tháng.
Nếu các dấu hiệu tăng sinh virus hay kháng nguyên HBe không giảm đi sau 1 tháng điều trị thì có thể tăng liều. Liều dùng có thể điều chỉnh tùy theo mức dung nạp của bệnh nhân.
Nếu không có dấu hiệu cải thiện nào sau 3-4 tháng điều trị thì nên kết thúc điều trị.
Trẻ em : liều dùng có thể lên đến 10 MUI/m2 mà không có tai biến gì ở trẻ em có viêm gan siêu vi B mạn tính. Tuy nhiên hiệu quả điều trị chưa đươc chứng minh ở trẻ em.
Thận trong : ở bệnh nhân bị viêm gan siêu vi B mạn tính đồng thời bị nhiễm HIV thì hiệu quả chưa đươc chứng minh.
Viêm gan siêu vi không A, không B mạn tính (viêm gan siêu vi C mạn tính) :
Liều tấn công : 3-6 MUI tiêm dưới da 3 lần/tuần cho đến khi men gan về bình thường.
Liều duy trì : 3 MUI tiêm dưới da 3 lần/tuần cho đủ 6-12 tháng.
Tuy nhiên liều tối ưu cũng như thời gian điều trị chưa đươc biết rõ.
Phần lớn bệnh nhân đáp ứng đều cho thấy cải thiện về men transaminase gan trong 16 tuần. Nếu bệnh nhân không đáp ứng sau 16 tuần thì nên ngưng điều trị.
- Chú ý khi sử dụng :
Các lo bột đã pha không nên dùng sau 2 giờ ở nhiệt độ phòng hoặc sau 24 giờ ở 2-8°C.
Sản phẩm này không chứa chất bảo quản. Do đó, để tránh khả năng lây nhiễm, một lo thuốc không nên dùng quá hơn một liều.
BẢO QUẢN
Để ở tủ lạnh 2-8°C, nhưng không đông lạnh.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Roféron-A nên đươc cho dưới sự theo dõi của một bác sĩ có kinh nghiệm trong việc sử dụng các thuốc hóa trị chống ung thư. Xử trí thích hơp trong trị liệu và các biến chứng của nó chỉ đạt đươc khi có sẵn các phương tiện điều trị và chẩn đoán thích hơp.
Bệnh nhân nên đươc thông báo không chỉ về lơi ích của việc điều trị mà còn về cả các tác dụng phụ mà ho có thể bị.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Nên thận trong khi dùng Roféron-A ở những bệnh nhân suy tủy nặng.
Roféron-A không nên dùng ở những bệnh nhân có bệnh tim hoặc có bất kỳ một tiền sử bệnh tim nào trước đó. Không có tác dụng độc tim trực tiếp nào đươc mô tả nhưng các độc tính cấp tính tự giới hạn (như là sốt, lạnh run…) thường xảy ra khi cho Roféron-A có thể làm nặng thêm tình trạng bệnh lý tim đã có sẵn.
Roféron-A không nên cho ở những bệnh nhân có động kinh và có rối loạn chức năng ở hệ thần kinh trung ương. Cần theo dõi định kỳ tâm thần kinh cẩn thận ở tất cả các bệnh nhân này.
Không dùng Roféron-A ở những bệnh nhân bị suy thận nặng, suy gan nặng và suy tủy nặng. Khi có rối loạn chức năng từ nhẹ đến trung bình thì cần phải theo dõi sát các chức năng này.
Nên theo dõi công thức máu định kỳ trước khi điều trị với Roféron-A và ở những giai đoạn thích hơp trong quá trình điều trị.
Sử dụng ở trẻ em :
Độ an toàn và tính hiệu quả của Roféron-A ở trẻ em chưa đươc xác định rõ.
LÚC CÓ THAI
Cũng giống như việc sử dụng các thuốc chống ung thư khác, nam và nữ đươc điều trị bằng Roféron-A nên áp dụng các biện pháp tránh thai hữu hiệu. Không nên dùng Roféron-A ở phụ nữ có thai trừ khi lơi ích cho người mẹ lại nhiều hơn là nguy cơ cho thai. Mặc dù các thử nghiệm trên động vật không cho thấy Roféron-A là một chất sinh quái thai nhưng không thể loại trừ việc gây hại cho thai khi sử dụng trong thai kỳ.
LÚC NUÔI CON BÚ
Chưa biết thuốc có bài tiết qua sữa người hay không. Tùy theo tầm quan trong của thuốc đối với người mẹ, chúng ta sẽ quyết định xem ngưng cho con bú hoặc ngưng thuốc.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Vì alpha-Interféron làm thay đổi chuyển hóa tế bào, vẫn có khả năng là Interféron làm thay đổi hoạt tính của những thuốc khác. Dữ kiện về tương tác thuốc của Roféron-A chưa rõ.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Các dữ kiện sau đây về phản ứng phụ đươc tổng kết từ điều trị 600 bệnh nhân ung thư đủ loại và 63 bệnh nhân bị bệnh bạch huyết tế bào tóc trơ với điều trị trước đó và có bệnh tiến triển. Hầu hết các bệnh nhân dùng liều cao hơn là liều đươc khuyến cáo hiện tại và điều này có lẽ giải thích tần số cao cũng như độ nặng của các phản ứng phụ.
Các triệu chứng toàn thân : đa số bệnh nhân có hội chứng giả cúm chẳng hạn như mệt, sốt, ớn lạnh, chán ăn, đau cơ, nhức đầu, đau khớp, vã mồ hôi. Các triệu chứng giả cúm này đươc khống chế một phần bằng paracétamol. Giảm liều thường sẽ giảm độ nặng của các tác dụng phụ chủ quan.
- Hệ tiêu hóa : khoảng 2/3 bệnh nhân có chán ăn và 1/2 có buồn nôn. Nôn ói, tiêu chảy và đau bụng từ nhẹ đến vừa thường ít gặp. Táo bón, đầy hơi, tăng nhu động hoặc ơ nóng hiếm khi xảy ra, loét dạ dày tái phát cũng như xuất huyết dạ dày-ruột không đe doa tính mạng cũng đã đươc báo cáo một vài ca riêng lẻ. Thay đổi chức năng gan biểu hiện bởi tăng SGOT, phosphatase kiềm, LDH và bilirubine đã đươc quan sát thấy và thường không cần chỉnh liều. Những ca viêm gan rất hiếm gặp.
- Hệ thần kinh trung ương : chóng mặt, chóang váng, ức chế tâm lý, trầm cảm, ngầy ngật, lú lẫn, kích động. Ngầy ngật nặng và hôn mê là những biến chứng hiếm gặp.
- Hệ thần kinh ngoại biên : dị cảm, tê bì, viêm thần kinh và run đôi khi xảy ra.
- Hệ tim mạch : các rối loạn xảy ra ở < 1/5 số bệnh nhân, bao gồm các giai đoạn tăng và tụt huyết áp thóang qua, phù, tím tái, loạn nhịp và đánh trống ngực. Hiếm khi có phù phổi, suy tim ứ huyết, ngưng hô hấp tuần hoàn và nhồi máu cơ tim.
- Da, niêm, lông, tóc, móng : herpès môi tái phát nặng hơn. Đỏ da, ngứa sẩn, rụng tóc nhẹ đến trung bình, khô da, chảy nước mũi và chảy máu cam.
- Thận và hệ niệu : các rối loạn bao gồm tiểu đạm và tăng số tế bào trong cặn lắng nước tiểu. Tăng BUN, créatinine và acide urique trong huyết thanh hiếm gặp.
- Hệ tạo máu : giảm bạch cầu thóang qua xảy ra trong khoảng 1/3 số bệnh nhân nhưng hiếm khi đòi hỏi giới hạn liều. Giảm tiểu cầu thường ít xảy ra, giảm hémoglobine và dung tích hồng cầu cũng hiếm xảy ra. Phục hồi các rối loạn huyết hoc nặng về mức bình thường như trước khi điều trị thường xảy ra trong vòng 7-10 ngày sau khi ngưng Roféron-A.
Kháng thể trung hòa với Roféron-A đươc phát hiện ở 1/5 bệnh nhân (3% ở bệnh bạch huyết tế bào tóc). Cho đến nay, các kháng thể này chưa có tác dụng lâm sàng nào rõ ràng. Ngoài ra, kháng thể với Interféron người có thể xảy ra ngẫu nhiên trong một vài tình huống lâm sàng (ung thư, lupus, zona…) ở những bệnh nhân chưa bao giờ nhận Interféron ngoại sinh.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Roféron-A chống chỉ định ở những bệnh nhân :
- Bị dị ứng với thuốc hoặc các chế phẩm Interféron khác.
- Tiền sử bệnh tim từ trước hoặc tổn thương tim nặng. Người ta chưa ghi nhận tác dụng độc trực tiếp lên tim của Roféron-A, nhưng những tác dụng phụ như sốt, lạnh run thường có khi dùng Roféron-A có thể làm nặng thêm tình trạng suy tim đã có sẵn.
- Suy thận, suy gan, suy tủy nặng.
- Tiền sử động kinh và/hoặc tổn thương các chức năng hệ thần kinh trung ương.
- Viêm gan mạn kèm theo xơ gan mất bù.
- Viêm gan mạn mới đươc điều trị hoặc đang điều trị bằng các tác nhân ức chế miễn dịch, ngoại trừ dùng corticoide trong một thời gian ngắn.
- Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú.

Leave a Reply