Rivotril 2mg

imageHÃNG SẢN XUẤT: Hoffmann – La Roche
NHÓM THUỐC: Thần kinh
THÀNH PHẦN: viên nén 2 mg : hộp 30 viên, hộp 100 viên.
Clonazepam 2 mg
DƯỢC LƯC
Clonazépam có tính chất dươc lý tương tự các benzodiazépine, bao gồm đặc tính chống co giật, an thần, giãn cơ và giải lo âu. Như những benzodiazépine khác, các tác dụng này có đươc chủ yếu bởi sự ức chế qua trung gian của chất ức chế GABA ở hậu khớp thần kinh, mặc dù có những số liệu trên thú vật cho thấy clonazépam còn có tác động trên sérotonine. Các số liệu trên thú vật và khảo sát điện não đồ ở người đã cho thấy clonazépam nhanh chóng làm giảm nhiều loại hoạt động kịch phát của sóng điện não bao gồm sự phóng thích các đỉnh và sóng khi có động kinh (cơn nhỏ), sóng đỉnh thấp, sóng đỉnh lan tỏa, các đỉnh thái dương hay các vị trí khác cũng như các sóng và đỉnh bất thường.
Các bất thường toàn thể của điện não đồ đươc làm giảm thường hơn so với những bất thường cục bộ. Theo các kết quả tìm thấy này, clonazépam sẽ gây ảnh hưởng thuận lơi trên các chứng động kinh cục bộ cũng như trên các chứng động kinh toàn thể nguyên phát.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu :
Clonazépam đươc hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn sau khi uống Rivotril. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt đươc trong hầu hết các trường hơp trong vòng 1-4 giờ sau khi uống. Độ sinh khả dụng là 90% sau khi uống. Với liều hàng ngày 6 mg chia làm ba lần, nồng độ hằng định trong huyết tương là 25-75 ng/ml. Nồng độ hằng định trong huyết tương sau khi uống nhiều liều lặp lại có thể cao hơn từ bốn đến tám lần (sau khi dùng mỗi ngày ba lần) so với nồng độ đỉnh quan sát đươc sau một liều đơn.
Sau khi tiêm bắp, Tmax đạt đươc vào khoảng 3 giờ và sinh khả dụng là 93%.
Nồng độ trong huyết tương của clonazépam đạt tác dụng tối ưu là ở giữa 20 và 70 ng/ml (trung bình là 55 ng/ml).
Phân phối :
Thể tích phân phối trung bình của clonazépam đươc ước lương khoảng 3 lít/kg. Gắn kết với protéine huyết tương là 85%. Clonazépam đươc công nhận là có đi qua nhau thai và bài tiết qua sữa mẹ.
Chuyển hóa :
Chuyển hóa sinh hoc của clonazépam bao gồm sự khử và hydroxyl hóa oxy của nhóm 7-nitro, với sự hình thành hơp chất 7-amino hay 7-acétylamino, chất này sau đó có thể liên hơp. Chất chuyển hóa chính là 7-amino-clonazépam, chỉ có tác dụng chống co giật nhẹ. Bốn chất chuyển hóa khác hiện diện với một tỷ lệ rất nhỏ cũng đã đươc nhận diện.
Đào thải :
Thời gian bán hủy đào thải của thuốc kéo dài trong khoảng 20 và 60 giờ (trung bình 30 giờ).
Trong vòng 4-10 ngày, 50-70% tổng số hoạt tính phóng xạ của liều uống clonazépam đươc đánh dấu phóng xạ đươc đào thải trong nước tiểu và 10-30% đươc tìm thấy trong phân hầu hết dưới dạng tự do hay dạng chất chuyển hóa liên hơp. Dưới 0,5% xuất hiện dưới dạng clonazépam không đổi trong nước tiểu.
Dươc động hoc trong những trường hơp lâm sàng đặc biệt :
Dựa trên những tiêu chuẩn động hoc, không cần thiết phải điều chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận. Thời gian bán hủy đào thải ở trẻ sơ sinh cũng nằm trong giới hạn đươc báo cáo cho ngưòi lớn.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Rivotril đươc chỉ định như một thuốc hàng đầu trong những cơn vắng ý thức điển hình (cơn nhỏ), vắng ý thức không điển hình (hội chứng Lennox-Gastaut), động kinh co giật và động kinh mất trương lực (hội chứng rơi).
Rivotril cũng đươc chỉ định như thuốc hàng thứ nhì trong các co giật ở trẻ sơ sinh (hội chứng West).
Trong động kinh co cứng (cơn lớn), động kinh đơn giản và phức tạp một phần và trong các cơn động kinh co cứng toàn thể thứ phát, Rivotril đươc chỉ định như một thuốc hàng thứ ba.
Sau khi tiêm tĩnh mạch, Rivotril đã chứng minh hữu hiệu trong kiểm soát các loại khác nhau của tình trạng động kinh.
CÁCH DÙNG: Liều tiêu chuẩn :
Liều lương cho Rivotril phải đươc điều chỉnh theo từng cá nhân tùy theo đáp ứng lâm sàng, dung nạp thuốc và tuổi tác của mỗi bệnh nhân. Để bảo đảm cho việc chỉnh liều đươc tối ưu, nên dùng dạng thuốc nhỏ giot cho trẻ sơ sinh và viên nén 0,5 mg cho trẻ lớn. Viên nén 0,5 mg có đường rãnh trên viên thuốc dễ dàng cho việc chia liều thấp hơn khi dùng cho người lớn trong giai đoạn trị liệu khởi đầu.
Theo nguyên tắc chung, Rivotril đươc cho dùng với liều thấp, không kết hơp thuốc cho những trường hơp mới, không đề kháng với trị liệu.
Một liều đơn Rivotril uống bắt đầu có tác dụng trong vòng 30-60 phút và duy trì hiệu lực trong 6-8 giờ ở trẻ em và 8-12 giờ ở người lớn. Liều tiêm tĩnh mạch có tác dụng lập tức và kéo dài trong 2-3 giờ.
Điều trị theo đường uống :
Để tránh tác dụng phụ lúc bắt đầu trị liệu, cần dùng Rivotril với liều thấp và tăng dần dần liều hàng ngày cho đến khi đạt đươc liều duy trì thích hơp cho từng bệnh nhân.
Liều khởi đầu dùng cho trẻ sơ sinh và trẻ em cho đến 10 tuổi (hay đến 30 kg thể trong) là 0,01-0,03 mg/kg mỗi ngày chia làm 2-3 lần. Nên tăng liều không quá 0,25-0,5 mg mỗi ba ngày cho đến khi hoặc đạt đến liều duy trì hàng ngày khoảng 0,1 mg/kg thể trong hoặc kiểm soát tốt cơn động kinh hay tác dụng ngoại ý đươc ngăn ngừa không tăng lên nữa. Liều tối ưu hàng ngày cho trẻ em là 0,2 mg/kg thể trong và không nên vươt quá liều này.
Nếu Rivotril đươc kê toa dạng thuốc nhỏ giot, nên sử dụng muỗng lường và có thể pha trộn với nước, trà hay nước trái cây.
Dựa trên các liều lương đươc xác định cho trẻ em đến 10 tuổi (xem phía trên) và liều dành cho người lớn (xem phía dưới) các liều có thể dùng cho trẻ em từ 10 đến 16 tuổi : Liều khởi đầu là 1-1,5 mg/ngày chia thành 2-3 lần. Liều lương có thể gia tăng 0,25-0,5 mg mỗi ba ngày cho đến khi đạt đươc liều duy trì thích hơp cho từng người (thường là 3-6 mg/ngày).
Liều khởi đầu cho người lớn không nên vươt quá 1,5 mg/ngày chia làm 3 lần. Có thể tăng liều 0,5 mg mỗi ba ngày cho đến khi động kinh đươc kiểm soát thỏa đáng hay tác dụng không mong muốn đươc ngăn ngừa không tăng lên nữa. Liều duy trì phải đươc điều chỉnh cho từng người bệnh tùy theo đáp ứng. Thông thường liều duy trì 3-6 mg mỗi ngày là đủ. Liều điều trị tối đa cho người lớn là 20 mg mỗi ngày và không nên vươt quá liều này.
Nên chia liều hàng ngày thành ba phần bằng nhau. Nếu các liều không đươc chia đều nhau, nên dùng liều lớn nhất trước khi nghỉ ngơi. Mức độ liều duy trì tốt nhất đạt đươc sau 1-3 tuần điều trị. Khi đã đạt đến mức độ duy trì, lương thuốc dùng hàng ngày có thể dùng một lần duy nhất vào buổi tối.
Trước khi thêm Rivotril vào một phác đồ điều trị chống co giật có sẵn, nên cân nhắc rằng sử dụng đồng thời nhiều thuốc kháng co giật có thể dẫn đến sự gia tăng tác dụng không mong muốn.
Điều trị theo đường tiêm :
Tiêm tĩnh mạch :
Tiêm tĩnh mạch đươc dùng chủ yếu điều trị tình trạng động kinh :
Trẻ sơ sinh và trẻ em : nửa ống thuốc (0,5 mg) tiêm tĩnh mạch chậm hay truyền tĩnh mạch.
Người lớn : một ống thuốc (1 mg) tiêm tĩnh mạch chậm hay tiêm truyền tĩnh mạch. Liều này có thể lặp lại nếu cần thiết (1-4 mg thường là đủ để đảo ngươc tình trạng động kinh).
Ở người lớn, tốc độ truyền không đươc vươt quá 0,25-0,5 mg (0,5-1,0 ml dung dịch thuốc pha) mỗi phút và không đươc vươt quá tổng liều 10 mg.
Tiêm tĩnh mạch chậm :
Dung dịch của ống thuốc chứa 1 mg hoạt chất chỉ dùng đươc khi thêm vào 1 ml dung môi để tránh kích ứng tại chỗ cho tĩnh mạch. Nên pha loãng dung dịch tiêm ngay trước khi sử dụng. Nên tiêm tĩnh mạch chậm đồng thời liên tục theo dõi điện não đồ, hô hấp và huyết áp.
Tiêm truyền :
Rivotril (chỉ với ống thuốc chứa hoạt chất) có thể đươc pha loãng để tiêm truyền theo tỷ lệ 1 ống thuốc (1 mg) với tối thiểu 85 ml (ví dụ, 3 ống thuốc trong 250 ml) để tránh kết tủa với các dung môi sau : sodium chlorure 0,9% ; sodium chlorure 0,45% + glucose 2,5% ; glucose 5% và glucose 10%. Các hỗn hơp này ổn định trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng.
Hoạt chất có thể bị hấp thụ bởi chất PVC. Do đó, nên dùng bao bì bằng thủy tinh hoặc nếu có dùng bao bì PVC thì phải truyền hỗn hơp ngay lập tức và thường truyền trong 4 giờ. Thời gian tiêm truyền không nên vươt quá 8 giờ.
Không pha dịch truyền Rivotril bằng dung dịch sodium bicarbonate vì có thể tạo chất kết tủa.
Tiêm bắp :
Chỉ nên dùng theo đường tiêm bắp trong những trường hơp ngoại lệ hay nếu không thể dùng theo đường tĩnh mạch (sau khi tiêm bắp, Tmax là 3 giờ).
Hướng dẫn dùng liều lương đặc biệt :
Rivotril có thể dùng đồng thời với một hay nhiều thuốc chống động kinh khác. Trong trường hơp này, phải điều chỉnh liều của mỗi thuốc để có đươc tác dụng tối ưu.
Giống như với những thuốc chống động kinh khác, không đươc ngưng điều trị với Rivotril một cách đột ngột mà phải giảm dần từ từ.
QUÁ LIỀU
Triệu chứng :
Triệu chứng quá liều hay ngộ độc thay đổi rất nhiều tùy theo từng người, tùy theo tuổi tác, thể trong và đáp ứng của mỗi người. Các triệu chứng này có thể từ buồn ngủ và chóng mặt cho đến mất điều hòa, buồn ngủ và trạng thái sững sờ, và cuối cùng là hôn mê, cùng với suy hô hấp và trụy tuần hoàn. Hiếm có các di chứng trầm trong trừ khi có sử dụng đồng thời rươu hay các thuốc khác.
Điều trị :
Trong việc kiểm soát quá liều, nên lưu ý rằng có thể quá liều do nhiều thuốc. Cùng với kiểm tra hô hấp, mạch và huyết áp, cần chỉ định thêm rửa dạ dày, truyền dịch với các biện pháp hỗ trơ khác đồng thời chuẩn bị sẵn những dụng cụ cấp cứu khác để đối phó với tình huống tắt nghẽn khí đạo. Chứng tụt huyết áp có thể đươc xử lý bằng các thuốc giống giao cảm.
Chú ý :
Chất đối kháng benzodiazépine là Anexate (hoạt chất chính là flumazénil) không đươc chỉ định cho những bệnh nhân động kinh đã đươc điều trị với các benzodiazépine. Sự đối kháng với tác động của benzodiazépine ở những bệnh nhân này có thể kích động cơn động kinh.
TÁC DỤNG PHỤ: THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Đặc biệt thận trong khi dùng Rivotril cho bệnh nhân bị mất điều hòa vận động tủy sống hay tiểu não, khi ngộ độc cấp rươu hay thuốc và khi bệnh nhân có tổn thương gan nặng (như xơ gan).
Nên dùng các benzodiazépine một cách thận trong đặc biệt cho bệnh nhân có tiền sử nghiện rươu hay ma túy.
Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, Rivotril có thể gây tăng tiết nước bot và dịch tiết phế quản. Do đó phải chú ý đặc biệt đến vấn đề hô hấp ở trẻ.
Phải thận trong điều chỉnh liều lương Rivotril theo yêu cầu của từng người trên những bệnh nhân đang có bệnh đường hô hấp (như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) hay bệnh gan và trên những bệnh nhân đang điều trị với những thuốc tác động lên trung ương hay những thuốc chống co giật (chống động kinh) (xem Tương tác thuốc).
Giống như những thuốc cùng loại, tùy thuộc liều lương, đường sử dụng và tính nhạy cảm của từng tác nhân, Rivotril có thể làm thay đổi các phản ứng của bệnh nhân (như khả năng lái xe, phản xạ trong khi giao thông).
Không nên ngưng đột ngột các thuốc chống động kinh bao gồm Rivotril do có thể làm tăng tình trạng động kinh. Khi cần giảm liều hay ngưng thuốc theo ý kiến bác sĩ, nên thực hiện từ từ.
Trong quá trình tiêm tĩnh mạch, phải chon tĩnh mạch có kích cở thích hơp và tiêm thật chậm đồng thời kiểm tra liên tục hô hấp và huyết áp. Nếu tiêm nhanh hay nếu kích cở của tĩnh mạch không thích hơp, có nguy cơ viêm tĩnh mạch huyết khối và chứng này đến lươt nó có thể tạo ra huyết khối.
Nên theo dõi chặt chẽ những bệnh nhân có tiền sử trầm cảm và/hoặc có ý định tự tử.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Các nghiên cứu cận lâm sàng không thể loại trừ trường hơp clonazépam có khả năng gây dị dạng bẩm sinh. Từ các khảo sát dịch tể hoc có những bằng chứng rằng thuốc chống động kinh có tác động như những tác nhân sinh quái thai. Tuy nhiên, khó xác định đươc từ những báo cáo dịch tể hoc đươc ấn hành rằng thuốc hay kết hơp thuốc nào chịu tránh nhiệm cho những khiếm khuyết ở trẻ sơ sinh. Cũng có khả năng rằng các yếu tố khác như các tác nhân di truyền hay chính bản thân tình trạng động kinh có thể quan trong hơn trị liệu với thuốc trong việc dẫn đến các khiếm khuyết.
Do đó, chỉ nên dùng thuốc cho phụ nữ có thai nếu lơi ích có thể mang lại cao hơn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi.
Trong thai kỳ, Rivotril chỉ có thể đươc dùng khi có chỉ định bắt buộc. Dùng liều cao trong ba tháng cuối thai kỳ hay trước khi sanh có thể gây các bất thưòng trên nhịp tim của trẻ chưa sinh và hạ thân nhiệt, giảm trương lực, và suy hô hấp nhẹ và kém dinh dưỡng ở trẻ mới sinh. Nên ghi nhớ rằng việc phụ nữ bị động kinh có thai và việc ngưng thuốc đều có thể gây tăng vot động kinh.
Lúc nuôi con bú :
Mặc dù hoạt chất của Rivotril đươc tìm thấy có tiết ra qua sữa mẹ chỉ với lương rất nhỏ, các bà mẹ đang đươc điều trị thuốc này không nên cho con bú. Nếu có chỉ định bắt buộc Rivotril, nên ngưng cho con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Rivotril có thể đươc dùng đồng thời với một hay nhiều thuốc chống động kinh khác. Nhưng việc thêm một thuốc khác vào phác đồ trị liệu cần đi kèm theo với nghiên cứu cẩn thận đáp ứng của bệnh nhân với trị liệu do các tác dụng không mong muốn, như an thần và lãnh đạm có thể xảy ra. Trong những trường hơp như vậy, phải điều chỉnh liều lương của thuốc để đạt đươc tác dụng tối ưu.
Dùng đồng thời với các thuốc cảm ứng men gan như barbiturate, hydantoine hay carbamazépine có thể thúc đẩy chuyển hóa sinh hoc của clonazépam mà không ảnh hưởng đến việc gắn kết với protéine của nó. Ngươc lại, clonazépam chính bản thân nó không cho thấy có gây cảm ứng men chịu trách nhiệm cho chuyển hóa của chính nó.
Khi dùng cùng lúc với phenytoine hay primidone, đôi khi quan sát đươc có sự gia tăng nồng độ trong huyết thanh của hai chất này.
Sự kết hơp clonazépam với acide valproique đôi khi có thể gây động kinh cơn nhỏ.
Dùng Rivotril đồng thời với các thuốc tác động lên trung ương, như các thuốc chống co giật khác, thuốc gây dị cảm, thuốc ngủ, thuốc tâm thần và một vài thuốc giảm đau cũng như các chất làm giãn cơ, có thể dẫn đến khả năng phối hơp tác dụng của các thuốc. Điều này đặc biệt đúng khi có mặt rươu. Trong điều trị kết hơp với những thuốc tác động lên trung ương, phải điều chỉnh liều lương của từng thuốc để đạt đươc tác dụng tối ưu.
Bệnh nhân bị động kinh đang đươc điều trị với Rivotril phải kiêng rươu do có thể làm thay đổi tác dụng của thuốc, làm giảm hiệu lực điều trị hay tạo ra các tác dụng không mong muốn.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Một số tác dụng ngoại ý xuất hiện tương đối thường xuyên : mệt mỏi, buồn ngủ, mất trương lực cơ, yếu cơ, chóng mặt, choáng váng, mất điều hòa, phản ứng chậm Những tác dụng này thường thoáng qua và nói chung biến mất tự phát trong quá trình điều trị hay khi giảm liều. Có thể ngăn ngừa một phần những tác dụng ngoại ý này bằng cách tăng liều chậm khi bắt đầu trị liệu.
Kém tập trung, cảm giác không đươc nghỉ ngơi, lú lẫn và mất định hướng đã đươc quan sát. Có thể xuất hiện chứng quên về sau khi dùng các thuốc benzodiazépine với liều điều trị, khi dùng liều cao hơn thì nguy cơ cũng tăng nhiều hơn. Tác dụng gây quên có thể đi kèm với thái độ cư xử bất thường.
Với một vài dạng động kinh nhất định, có thể có gia tăng tỷ lệ động kinh khi điều trị kéo dài.
Có thể xảy ra chứng trầm cảm ở bệnh nhân đươc điều trị bằng Rivotril, tuy nhiên chứng này cũng có thể đi kèm với các bệnh căn bản.
Đã quan sát đươc các phản ứng nghịch lý sau : kích động, kích thích, thái độ hung hăng, bồn chồn, sơ sệt, thái độ thù địch, lo âu, rối loạn giấc ngủ, ác mộng và có những giấc mơ sống động.
Trong những trường hơp hiếm, có thể có chứng mày đay, ngứa ngáy, nổi ban, rụng tóc trong một thời gian, thay đổi sắc tố, buồn nôn, các triệu chứng đau thương vị, nhức đầu, giảm tiểu cầu, giảm tình dục, bất lực và tiểu không kiềm chế. Một số trường hơp cá biệt làm phát triển có hồi phục đặc tính sinh dục thứ phát ở trẻ em (dậy thì sớm không hoàn toàn) cũng đã đươc báo cáo. Các phản ứng dị ứng và rất hiếm trường hơp phản vệ cũng đã đươc báo cáo với các benzodiazépine.
Đặc biệt khi điều trị kéo dài hay khi dùng liều cao, các rối loạn có hồi phục như nói chậm hay nói lắp, giảm điều hòa các cử động và đi lảo đảo và các rối loạn thị lực.
Có thể có trụy hô hấp đặc biệt khi tiêm tĩnh mạch clonazepam. Tác dụng này có thể đươc làm nặng hơn khi tắt nghẽn khí đạo hay tổn thương não trước đó hay nếu đã dùng một thuốc làm suy hô hấp. Trong phần lớn các trường hơp, tác dụng này có thể tránh bằng cách thận trong điều chỉnh liều cho từng trường hơp.
Ở trẻ sơ sinh và trẻ em, Rivotril có thể làm tăng tiết nước bot và chất tiết phế quản, do đó phải chú ý đặc biệt đến vấn đề hô hấp ở trẻ.
Trong quá trình tiêm tĩnh mạch, phải chon tĩnh mạch có kích cỡ thích hơp và tiêm thật chậm đồng thời kiểm tra liên tục hô hấp và huyết áp.
Ở người lớn, tốc độ tiêm không đươc vươt quá 0,25-0,5 mg (0,5-1 ml dung dịch thuốc pha) cho mỗi phút (xem Liều lương).
Nếu tiêm nhanh hay nếu kích cỡ của tĩnh mạch không thích hơp, có nguy cơ viêm tĩnh mạch huyết khối và chứng này đến lươt nó có thể tạo ra huyết khối.
Sử dụng benzodiazépine có thể dẫn đến sự phát triển các lệ thuộc sinh lý và tâm lý với những thuốc này. Nguy cơ lệ thuộc thuốc gia tăng theo liều lương và thời gian điều trị và đặc biệt biểu hiện ở những bệnh nhân đã có tiền sử nghiện rươu hay ma túy. Khi có dấu hiệu lệ thuộc về mặt sinh lý, ngưng điều trị đột ngột sẽ kèm theo các triệu chứng cai thuốc. Trong quá trình điều trị lâu dài, triệu chứng cai thuốc có thể phát triển sau một thời gian quá dài, đặc biệt khi dùng với liều cao hay nếu giảm liều hàng ngày một cách nhanh chóng hay đột ngột. Các triệu chứng này bao gồm run rẩy, đổ mồ hôi, bồn chồn, rối loạn giấc ngủ và lo âu, nhức đầu, đau cơ, lo lắng quá độ, căng thẳng, cảm giác không đươc nghỉ ngơi, lú lẫn, kích động và động kinh có thể đi kèm với bệnh sẵn có. Trong những trường hơp nặng, các triệu chứng sau có thể xảy ra : mất nhân cách, mất nhận thức, tăng thính lực, tê cứng và cảm giác châm nhói ở các chi, quá mẫn với ánh sáng, tiếng động và tiếp xúc vật lý hay ảo giác. Do nguy cơ xuất hiện các triệu chứng cai thuốc là lớn hơn sau khi ngưng điều trị đột ngột, nên tránh ngưng thuốc đột ngột và kết thúc điều trị từ từ – ngay cả khi dùng trong một thời gian ngắn – bằng cách giảm dần liều hàng ngày.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc :
Ngay cả khi sử dụng như hướng dẫn, clonazépam có thể gây phản ứng thiếu nhanh nhạy do đó làm khả năng lái xe hay thao tác máy móc bị giảm sút. Tác dụng này trầm trong hơn khi uống rươu. Do đó, nên tránh lái xe, thao tác máy móc và các hoạt động nguy hiểm khác hay ít nhất trong những ngày đầu tiên của điều trị. Người bác sĩ phải quyết định về vấn đề này cho bệnh nhân và nên dựa trên đáp ứng của bệnh nhân với điều trị và liều lương dùng.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Không đươc dùng Rivotril trên bệnh nhân có quá mẫn đã biết với clonazépam hay bất cứ thành phần tá dươc nào của thuốc, trên bệnh nhân tổn thương gan nặng, hay suy hô hấp trầm trong.
Các ống thuốc Rivotril có chứa alcool benzylique. Do có báo cáo về thiểu năng tâm thần, thần kinh và suy yếu cơ quan đa hệ thống gây bởi alcool benzylique, phải tránh dùng cho trẻ sơ sinh, và đặc biệt là trẻ sinh non.

Leave a Reply