Ríperdal 2mg

imageHÃNG SẢN XUẤT: Janssen Pharmaceutic
NHÓM THUỐC: Tâm thần
THÀNH PHẦN: viên nén bao phim bẻ đươc 2 mg : vỉ 10 viên, hộp 2 vỉ và hộp 6 vỉ – Bảng B.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Risperidone 2 mg
Tá dươc : lactose, tinh bột ngô, cellulose vi tinh thể, hypromellose, Mg stearate, silic dạng keo khan, natri lauryl sulfate, propylene glycol, talc, titane dioxide và phẩm màu vàng cam S-nhôm.
DƯỢC LƯC
Risperdal, có hoạt chất là risperidone, là thuốc chống loạn thần mới thuộc nhóm dẫn xuất benzisoxazole.
Risperidone là một chất đối kháng monoaminergic có chon loc với những đặc tính riêng biệt. Risperidone có ái lực cao với các thụ thể serotonin 5-HT2 và dopamine D2.
Risperidone cũng gắn kết vào thụ thể a1-adrenergic và có ái lực thấp hơn với thụ thể histamin H1 và thụ thể a2-adrenergic.
Risperidone không có ái lực với các thụ thể cholinergic. Mặc dầu risperidone là chất đối kháng mạnh với thụ thể D2, đươc xem là cải thiện các triệu chứng dương tính của bệnh tâm thần phân liệt, nhưng risperidone ít gây ức chế các hoạt động về vận động và ít gây chứng giữ nguyên thế hơn các thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu. Là chất đối kháng cân bằng giữa thụ thể serotonin và dopamine trung ương, risperidone có thể làm giảm nguy cơ gây tác dụng phụ ngoại tháp và mở rộng tác dụng điều trị đối với các triệu chứng âm tính và triệu chứng cảm xúc ở bệnh nhân tâm thần phân liệt.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Risperidone đươc hấp thu hoàn toàn sau khi uống, đạt đến nồng độ đỉnh trong huyết tương trong vòng 1-2 giờ. Sự hấp thu không bị ảnh hưởng bởi thức ăn, vì vậy risperidone có thể dùng lúc no hoặc đói.
Risperidone đươc chuyển hóa một phần thành 9-hydroxy-risperidone, chất này có tác dụng dươc lý tương tự như risperidone. Risperidone cùng với 9-hydroxy-risperidone tạo nên thành phần có hoạt tính chống loạn thần. Đường chuyển hóa khác của risperidone là loại gốc alkyl ở Nitơ.
Ở những bệnh nhân tâm thần, sau khi uống risperidone đươc thải trừ với thời gian bán thải khoảng 3 giờ. Thời gian bán hủy của 9-hydroxy-risperidone và thành phần có hoạt tính chống loạn thần là 24 giờ.
Nồng độ ổn định trong máu của risperidone đạt đươc trong vòng 1 ngày ở hầu hết các bệnh nhân. Nồng độ ổn định trong máu của 9-hydroxy-risperidone đạt đươc trong vòng 4-5 ngày sau khi dùng thuốc. Trong khoảng liều điều trị, nồng độ trong huyết tương của risperidone tỉ lệ với liều dùng.
Risperidone đươc phân bố nhanh chóng. Thể tích phân bố là 1-2 l/kg. Trong huyết tương, risperidone gắn kết với albumin và a1-acid glycoprotein. Sự gắn kết với protein huyết tương của risperidone là 88%, của 9-hydroxy-risperidone là 77%.
Một tuần sau khi uống, 70% liều uống đươc thải trừ trong nước tiểu và 14% trong phân. Trong nước tiểu, risperidone và 9-hydroxy-risperidone chiếm 35-45% liều dùng. Phần còn lại là những chất chuyển hóa không có hoạt tính.
Một nghiên cứu liều duy nhất cho thấy nồng độ chất có hoạt tính trong huyết tương cao hơn và sự thải trừ của risperidone chậm hơn ở người già và ở bệnh nhân suy thận. Nồng độ trong huyết tương của risperidone ở bệnh nhân suy gan là bình thường.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Risperdal đươc chỉ định trong điều trị tâm thần phân liệt cấp và mạn tính và các bệnh loạn thần khác, trong đó nổi bật các triệu chứng dương tính (như ảo giác, hoang tưởng, rối loạn tư duy, thù hằn, đa nghi) và/hoặc các triệu chứng âm tính (như cảm xúc cùn mòn, co rút về tình cảm và xã hội, ngôn ngữ nghèo nàn).
Risperdal cũng cải thiện các triệu chứng cảm xúc (như trầm cảm, mặc cảm tội lỗi, lo âu) kết hơp với tâm thần phân liệt.
CÁCH DÙNG: Risperdal có thể đươc dùng dưới dạng viên nén hoặc dung dịch uống.
Chuyển từ các thuốc chống loạn thần khác sang Risperdal :
Khi điều kiện trị liệu thích hơp, nên ngưng dần dần sự điều trị trước đó trong khi bắt đầu điều trị bằng Risperdal. Cũng như vậy, trong điều kiện trị liệu thích hơp khi chuyển bệnh nhân đang dùng các thuốc chống loạn thần có tác dụng kéo dài sang Risperdal, thì nên bắt đầu dùng Risperdal thay cho lần tiêm thuốc tiếp theo. Nhu cầu cho việc tiếp tục dùng những thuốc chống Parkinson nên đươc đánh giá lại định kỳ.
Người lớn :
Risperdal có thể đươc dùng 1 lần/ngày hoặc 2 lần/ngày.
Điều chỉnh liều tăng dần cho bệnh nhân đến 6 mg trong vòng 3 ngày. Bệnh nhân cấp tính hoặc mãn tính, nên dùng Risperdal liều khởi đầu 2 mg/ngày. Nên tăng liều lên 4 mg vào ngày thứ hai và 6 mg vào ngày thứ ba. Từ đó về sau có thể duy trì liều này hoặc thay đổi tùy từng bệnh nhân nếu cần thiết. Liều tối ưu thông thường là 4-8 mg/ngày. Tuy nhiên, ở một vài bệnh nhân có thể chỉ cần dùng liều thấp hơn.
Giai đoạn điều chỉnh liều chậm hơn có thể tích hơp về mặt trị liệu.
Liều trên 10 mg/ngày không thấy có hiệu quả cao hơn so với những liều thấp hơn và có thể gây ra các triệu chứng ngoại tháp. Vì độ an toàn của liều trên 16 mg/ngày chưa đươc đánh giá, do đó không nên dùng liều cao hơn ở mức này.
Benzodiazepine có thể đươc phối hơp thêm với Risperdal nếu cần có thêm tác dụng an thần.
Người già :
Liều khởi đầu nên dùng là 0,5 mg x 2 lần/ngày. Liều này có thể đươc điều chỉnh tăng thêm 0,5 mg x 2 lần/ngày tùy theo từng bệnh nhân cho đến liều 1-2 mg x 2 lần/ngày. Risperdal đươc dung nạp tốt ở người già.
Trẻ em :
Chưa có kinh nghiệm dùng thuốc này cho trẻ em dưới 15 tuổi.
Người bệnh gan và thận :
Liều khởi đầu nên dùng là 0,5 mg x 2 lần/ngày. Liều này có thể đươc điều chỉnh tăng thêm 0,5 mg x 2 lần/ngày tùy theo từng bệnh nhân cho đến liều 1-2 mg x 2 lần/ngày. Risperdal nên đươc dùng thận trong ở nhóm bệnh nhân này cho đến khi có đươc nhiều kinh nghiệm hơn.
QUÁ LIỀU
Triệu chứng :
Nhìn chung, những dấu hiệu và triệu chứng đươc ghi nhận là kết quả từ tác dụng quá mức về tác động dươc lý đã đươc biết của thuốc. Những triệu chứng này bao gồm buồn ngủ và an thần, nhịp tim nhanh, hạ huyết áp và triệu chứng ngoại tháp. Sự quá liều cho đến 360 mg đã đươc báo cáo.
Những bằng chứng hiện có gơi ý Risperdal có khoảng an toàn rộng. Ở một bệnh nhân có kèm theo hạ kali huyết mà uống 360 mg Risperdal, đoạn QT kéo dài đã đươc báo cáo.
Trong trường hơp quá liều cấp tính, nên xem xét khả năng đã dùng nhiều thuốc.
Điều trị :
Thiết lập và duy trì sự thông thường đường hô hấp và bảo đảm đầy đủ oxy và thông khí. Rửa dạ dày (sau khi đã đặt nội khí quản, nếu bệnh nhân bất tỉnh) và nên xem xét việc dùng than hoạt kết hơp với thuốc xổ. Nên bắt đầu theo dõi tim mạch ngay kể cả theo dõi điện tâm đồ liên tục để phát hiện loạn nhịp có thể xảy ra.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu đối với Risperdal. Do đó những biện pháp hỗ trơ thích hơp nên đươc áp dụng. Hạ huyết áp và suy tuần hoàn nên đươc điều trị bằng những biện pháp thích hơp như truyền dịch tĩnh mạch và/hoặc thuốc tác dụng giống thần kinh giao cảm. Trong trường hơp có triệu chứng ngoại tháp nặng, nên dùng các thuốc kháng cholinergic. Nên tiếp tục giám sát và theo dõi chặt chẽ về mặt y khoa cho đến khi bệnh nhân hồi phục.
BẢO QUẢN
Viên nén Risperdal nên đươc bảo quản ở nhiệt độ 15-30°C.
Dung dịch uống Risperdal nên đươc bảo quản ở nhiệt độ 15-30°C và nên đươc bảo vệ tránh đông.
Giữ thuốc ngoài tầm tay với trẻ em.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Do tác dụng chẹn alpha của Risperdal, chứng hạ huyết áp tư thế đứng có thể xảy ra, đặc biệt trong giai đoạn điều chỉnh liều ban đầu.
Risperdal nên đươc dùng thận trong đối với những bệnh nhân đươc biết có bệnh về tim mạch (ví dụ như suy tim, nhồi máu cơ tim, bất thường về dẫn truyền, mất nước, giảm thể tích máu hoặc bệnh mạch máu não) và liều dùng nên đươc điều chỉnh từ từ như đã đươc khuyến cáo (xem phần Liều lương và Cách dùng). Nên xem xét việc giảm liều nếu hạ huyết áp xảy ra.
Những thuốc có tính chất đối kháng thụ thể dopamine có liên quan với việc gây ra rối loạn vận động muộn đặc trưng bởi : các cử động nhịp nhàng không tự ý, chủ yếu ở lưỡi và/hoặc ở mặt. Đã có báo cáo rằng sự xuất hiện các triệu chứng ngoại tháp là một yếu tố nguy cơ cho việc phát triển rối loạn vận động muộn, bởi vì Risperdal ít có khả năng gây ra các triệu chứng ngoại tháp hơn so với các thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu nên Risperdal ít có nguy cơ tạo ra rối loạn vận động muộn hơn so với các thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu. Nếu những dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn vận động muộn xảy ra, việc ngừng sử dụng các thuốc chống loạn thần nên đươc xem xét.
Hội chứng ác tính của các thuốc an thần kinh chủ yếu, đặc trưng bởi sốt cao, cứng đờ cơ, sự không ổn định về thần kinh tự động, rối loạn ý thức và tăng nồng độ creatine phosphokinase (CPK) đã đươc báo cáo xảy ra với các thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu. Trong trường hơp này, tất cả các thuốc chống loạn thần, kể cả Risperdal nên đươc ngưng sử dụng.
Nên giảm phân nửa liều khởi đầu và phần tăng liều cho các liều kế tiếp ở người già, bệnh nhân suy thận hoặc suy gan. Cũng cần thận trong khi kê toa Risperdal đối với bệnh nhân bệnh Parkinson bởi vì theo lý thuyết, nó có thể làm cho bệnh nặng thêm.
Những thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu đươc biết có thể làm giảm ngưỡng động kinh. Nên thận trong khi điều trị cho những bệnh nhân có bệnh động kinh.
Bệnh nhân nên đươc khuyên tránh ăn quá nhiều vì có khả năng tăng cân.
Ảnh hưởng đến việc lái xe và sử dụng máy móc :
Risperdal có thể ảnh hưởng đến những hoạt động đòi hỏi sự tỉnh táo về tinh thần. Do đó, những bệnh nhân đang dùng Risperdal đươc khuyên không nên lái xe hoặc vận hành máy móc cho đến khi biết rõ sự nhạy cảm của ho.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Độ an toàn của Risperdal khi sử dụng cho phụ nữ có thai chưa đươc xác định. Mặc dù qua thử nghiệm trên động vật, risperidone không cho thấy độc tính trực tiếp trên sự sinh sản, một số tác dụng gián tiếp qua trung gian của prolactin và hệ thần kinh trung ương đã đươc ghi nhận. Tác động gây quái thai của risperidone không đươc ghi nhận ở bất cứ nghiên cứu nào. Do đó, chỉ nên dùng Risperdal trong lúc mang thai nếu lơi ích điều trị hơn hẳn nguy cơ tai biến.
Lúc nuôi con bú :
Risperdal cũng không đươc biết có bài tiết trong sữa mẹ hay không. Ở những nghiên cứu trên động vật, risperidone và 9-hydroxy-risperidone đươc bài tiết qua sữa. Do đó, phụ nữ đang sử dụng Risperdal không nên cho con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Nguy cơ dùng kết hơp Risperdal với những thuốc khác chưa đươc đánh giá một cách có hệ thống. Do Risperdal có tác dụng chủ yếu trên hệ thần kinh trung ương vì vậy nên thận trong khi dùng với các thuốc tác động trên hệ thần kinh trung ương.
Risperdal có thể đối kháng tác động của Levodopa và các chất đồng vận dopamine khác.
Carbamazepine cho thấy làm giảm nồng độ phần có hoạt tính chống loạn thần của Risperdal trong huyết tương. Những thuốc cảm ứng men gan khác cũng có tác dụng tương tự. Liều của Risperdal nên đươc điều chỉnh lại và giảm liều nếu cần thiết khi ngưng dùng carbamazepine và những thuốc cảm ứng men gan khác.
Nhóm phenothiazine, các thuốc chống trầm cảm 3 vòng và một số thuốc chẹn beta có thể làm tăng nồng độ risperidone trong huyết tương nhưng không làm tăng nồng độ phần có hoạt tính chống loạn thần. Khi Risperdal đươc uống cùng với các thuốc gắn kết cao với protein thì không có sự thế chỗ lẫn nhau có ý nghĩa về mặt lâm sàng của bất cứ thuốc nào từ protein huyết tương.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Nhìn chung Risperdal đươc dung nạp tốt và trong nhiều trường hơp, khó phân biệt tác dụng phụ với những triệu chứng tâm thần. Những tác dụng phụ đươc quan sát thấy khi sử dụng Risperdal như sau :
Thường gặp : mất ngủ, bứt rứt, lo âu, nhức đầu.
Ít gặp : ngủ gà, mệt mỏi, choáng váng, mất tập trung, táo bón, ăn không tiêu, nôn, mửa, đau bụng, nhìn mờ, chứng cương dương vật, rối loạn chức năng cương dương vật, rối loạn sự xuất tinh, tiểu không kiểm soát, viêm mũi, ban và phản ứng dị ứng khác.
Risperdal ít gây ra tác dụng phụ ngoại tháp hơn so với các thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu. tuy nhiên, trong một số trường hơp, những triệu chứng ngoại tháp sau đây có thể xảy ra : run, cứng cơ, tăng tiết nước bot, vận động chậm chạp, đứng ngồi không yên, loạn trương lực cơ cấp. Những triệu chứng này thường nhẹ và hồi phục khi giảm liều và/hoặc cho dùng những thuốc chống Parkinson nếu cần thiết.
Thỉnh thoảng, hạ huyết áp tư thế đứng, nhịp tim nhanh phản xạ hoặc cao huyết áp đã đươc nhận thấy sau khi uống Risperdal đặc biệt với liều khởi đầu cao (xem phần Thận trong lúc dùng).
Risperdal có thể gây tăng nồng độ prolactin trong huyết tương phụ thuộc vào liều dùng. Các biểu hiện có thể kết hơp là chảy sữa, to vú ở đàn ông, rối loạn chu kỳ kinh nguyệt và vô kinh.
Tăng cân (xem phần Thận trong lúc dùng), phù và tăng men gan đã đươc quan sát thấy trong khi điều trị bằng Risperdal.
Cũng như những thuốc an thần kinh cổ điển chủ yếu, những triệu chứng sau thỉnh thoảng đươc ghi nhận ở bệnh nhân loạn thần : ngộ độc nước hoặc do uống nước nhiều hoặc do hội chứng SIADH (sự tiết không thích hơp của nội tiết tố chống lơi tiểu), rối loạn vận động muộn, hội chứng ác tính các thuốc an thần chủ yếu, rối loạn điều hòa thân nhiệt và các cơn động kinh.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Risperdal đươc chống chỉ định với những bệnh nhân quá mẫn với thuốc.

Leave a Reply