Nolvadex

NolvadexHÃNG SẢN XUẤT: Astrazeneca Singapor
NHÓM THUỐC: Ung thư
THÀNH PHẦN: viên nén 10 mg : hộp 30 viên – Bảng A.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên Nolvadex
Tamoxifen citrate 10 mg
TÍNH CHẤT
Nolvadex (tamoxifen) là một loại kháng oestrogen không steroid. Trên người, Nolvadex tác dụng chủ yếu như là một kháng oestrogen. Thuốc ức chế tác dụng của oestrogen nội sinh trong cơ thể có lẽ qua cơ chế kết hơp với các thụ thể oestrogen. Tuy vậy thuốc cũng có thể tác dụng qua cơ chế khác vì lâm sàng ghi nhận tamoxifen có tác dụng ngay cả trong một số trường hơp thụ thể oestrogen âm tính.
Nolvadex đươc hấp thu nhanh chóng và đạt nồng độ tối đa trong huyết thanh sau khi uống từ 4-7 giờ. Sau 4 tuần điều trị với liều 40 mg/ngày, nồng độ duy trì trong huyết thanh đạt tới mức ổn định (khoảng 300 ng/ml). Thuốc có khả năng gắn kết cao với albumin trong huyết thanh (> 99%) và đươc chuyển hóa qua các phản ứng hydroxyl, demethyl hóa và các phản ứng kết hơp. Các dẫn xuất sau chuyển hóa của tamoxifen có cùng tác động dươc hoc do vậy vẫn duy trì đươc hiệu quả điều trị. Thuốc đươc bài tiết chủ yếu qua phân với thời gian bán hủy khoảng 7 ngày, riêng dẫn xuất chính lưu hành trong huyết thanh của tamoxifen là N-desmethyltamoxifen có thời gian bán hủy dài hơn đến 14 ngày.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Nolvadex đươc chỉ định trong điều trị ung thư vú.
CÁCH DÙNG: Người trưởng thành (kể cả người lớn tuổi ) : Liều dùng mỗi ngày trong khoảng từ 20 đến 40 mg, uống một lần duy nhất hoặc chia làm hai lần.
QUÁ LIỀU
Theo lý thuyết, việc sử dụng Nolvadex quá liều có thể gây các tác dụng ngoại ý kiểu kháng oestrogen như nêu trên nhưng trầm trong hơn. Các quan sát thực nghiệm trên động vật cho thấy với liều rất cao (100-200 lần liều dùng hàng ngày), Nolvadex mới gây ra các tác dụng giống oestrogen.
Hiện không có thuốc kháng Nolvadex đặc hiệu dùng cho trường hơp quá liều và biện pháp xử trí là điều trị triệu chứng.
BẢO QUẢN
Bảo quản thuốc ở nhiệt độ bình thường, tránh ánh sáng.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Trong khi điều trị tamoxifen, một số trường hơp bệnh nhân ung thư vú ở giai đoạn tiền mãn kinh có thể bị mất kinh.
Tác dụng chống đông máu có thể gia tăng đáng kể khi dùng Nolvadex kết hơp với thuốc kháng đông loại coumarin nên cần đánh giá và theo dõi cẩn thận tình trạng này.
Sự gia tăng các thay đổi ở nội mạc tử cung bao gồm tăng sản, pôlyp và ung thư đã đươc ghi nhận là có liên quan đến việc điều trị bằng Nolvadex. Điều này cho thấy Nolvadex có tác dụng giống oestrogen trên nội mạc tử cung và phải khám nghiệm ngay các trường hơp xuất huyết âm đạo bất thường trong khi điều trị bằng Nolvadex.
Các thử nghiệm sinh đột biến thực nghiệm và trên cơ thể sống ghi nhận Nolvadex không có tác dụng sinh đột biến. Nghiên cứu trên vài loại chuột ghi nhận việc dùng Nolvadex lâu dài có khả năng sinh bướu ở cơ quan sinh dục và gan. Ý nghĩa lâm sàng của các dữ kiện này chưa đươc xác lập.
Ảnh hưởng trên việc lái xe và điều khiển máy móc :
Không thấy có bằng chứng cho thấy rằng Nolvadex ảnh hưởng xấu trên các công việc này.
LÚC CÓ THAI
Nolvadex không đươc sử dụng trong thời gian mang thai. Bệnh nhân chưa mãn kinh cần đươc khám nghiệm kỹ lưỡng để loại trừ khả năng này trước khi điều trị.
LÚC NUÔI CON BÚ
Tuy chưa xác định rõ Nolvadex có đươc bài tiết qua sữa mẹ hay không, người ta vẫn khuyến cáo không dùng Nolvadex trong thời kỳ cho con bú. Sự quyết định ngưng cho con bú hoặc không dùng thuốc nên tùy thuộc vào mức độ quan trong của việc dùng thuốc đối với người mẹ.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Trong việc điều trị ung thư vú lâu dài bằng nội tiết tố, các tác dụng ngoại ý của Nolvadex ít gặp và thường nhẹ nhàng hơn so với các androgen và oestrogen khác. Các tác dụng ngoại ý này đươc phân loại theo tác dụng kháng oestrogen như cơn nóng bừng mặt, xuất huyết âm đạo, tiết dịch âm đạo, ngứa âm hộ ; hay các tác dụng mang tính chất toàn thân hơn như rối loạn tiêu hóa, phản ứng ở bướu, chóng mặt, nổi ban – hoặc ít gặp hơn là ứ dịch cơ thể, rụng tóc.
Khi các tác dụng ngoại ý trở nên nặng hơn, có thể xử trí bằng cách giảm thấp liều mà không ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Đã có một số ít trường hơp di căn xương có tăng calci trong máu trong giai đoạn bắt đầu điều trị.
Hiện tương giảm tiểu cầu trong khoảng 80.000-90.000/mm3, đôi khi thấp hơn đươc ghi nhận trên bệnh nhân ung thư vú điều trị bằng Nolvadex.
Một số trường hơp rối loạn thị giác hiếm hoi bao gồm tổn thương giác mạc, cườm và bệnh võng mạc cũng đươc ghi nhận trên bệnh nhân sử dụng Nolvadex.
Tình trạng nang hóa buồng trứng trên phụ nữ tiền mãn kinh có dùng Nolvadex đôi khi cũng đươc phát hiện.
Các tai biến do huyết khối đươc ghi nhận không thường xuyên trên bệnh nhân ung thư điều trị bằng Nolvadex. Các tai biến này thường có xuất độ cao hơn trên bệnh nhân ung thư nên sự liên quan với việc dùng Nolvadex hay không còn chưa xác định đươc.
Nolvadex làm thay đổi hoạt động các enzym ở gan và một số trường hơp rất hiếm hoi có thể gây các tổn thương nghiêm trong hơn như nhiễm mỡ, tắc mật và viêm gan.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Phụ nữ có thai.

Leave a Reply