Neurocalcium

HÃNG SẢN XUẤT: Laboratoires BIOLOGI
NHÓM THUỐC: Thần kinh
THÀNH PHẦN: viên bao : tube 40 viên.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Calcium gluconate 200 mg
Calcium bromure 100 mg
Phénobarbital 10 mg
Tính theo : calcum 35,5 mg (hay 0,89 mmol)
Tính theo : brome 67,8 mg (hay 0,85 mmol)
DƯỢC LƯC
Phối hơp có tác dụng an thần, bao gồm phénobarbital, calcium gluconate và calcium bromure.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Phénobarbital :
- Sinh khả dụng của phénobarbital vào khoảng 80% ; nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt đươc sau 8 giờ. Tỉ lệ gắn kết với protéine huyết tương vào khoảng 50% ở người lớn.
- Thời gian bán hủy trong huyết tương từ 50 đến 140 giờ ở người lớn. Thời gian bán hủy lâu hơn ở người già hay trong trường hơp bệnh nhân bị suy gan hay suy thận.
- Phénobarbital là một chất gây cảm ứng men do đó có thể xảy ra tương tác với nhiều thuốc khác.
- Phénobarbital khuếch tán đến khắp nơi trong cơ thể, nhất là ở não nhờ tan đươc trong mỡ, qua đươc nhau thai và bài tiết qua sữa mẹ.
- Phénobarbital đồng thời đươc chuyển hóa ở gan (cho một dẫn xuất hydroxyl không có hoạt tính, chất này sau đó đươc liên hơp với acide glucuronique và sulfurique) và đươc bài tiết qua thận dưới dạng không đổi (sự bài tiết qua thận tăng lên trong trường hơp nước tiểu bị kiềm hóa).
Calcium bromure :
- Muối bromure đươc hấp thu nhanh và đạt nồng độ đỉnh sau 30 đến 45 phút.
- Phần lớn đươc đào thải qua thận.
- Thời gian bán hủy trong huyết tương là 12 ngày, do đó cần thận khi dùng dài hạn do có thể gây tích tụ thuốc.
Muối calcium :
- Khoảng 1/3 lương calcium uống vào đươc hấp thu.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Đươc chỉ định trong :
- Các rối loạn của chứng tim dễ bị kích thích ở người lớn (tim không có bệnh),
- Điều trị triệu chứng tình trạng thần kinh nhạy cảm ở người lớn, nhất là khi có các rối loạn nhẹ về giấc ngủ.
CÁCH DÙNG: Dùng cho người lớn.
- Các rối loạn của chứng tim dễ bị kích thích ở người lớn và điều trị triệu chứng tình trạng thần kinh nhạy cảm :
1-6 viên/ngày, chia làm 2 hoặc 3 lần.
- Rối loạn nhẹ giấc ngủ :
2-6 viên/ngày, chia làm 2 lần (vào bữa ăn tối và lúc đi ngủ).
Để tránh gây tích tụ bromure, không dùng liều hàng ngày vươt quá 10 mg brome/kg thể trong, mỗi đơt điều trị không nên quá 3 tuần và khoảng cách giữa 2 đơt điều trị từ 3-4 tuần.
QUÁ LIỀU
Các nguy cơ gây quá liều là của barbiturate.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Chú ý đề phòng :
Ngưng thuốc nếu có các biểu hiện ở da.
Thận trong lúc dùng :
- Tuyệt đối không uống rươu trong thời gian điều trị.
- Sử dụng thận trong ở người già, bệnh nhân bị suy thận, suy gan do có thể tiềm tàng nguy cơ của phénobarbital.
- Trường hơp bệnh nhân đang áp dụng chế độ ăn kiêng muối : sự đào thải của bromure có thể bị giảm.
Lái xe và vận hành máy móc :
Cần phải lưu ý vì có thể xảy ra buồn ngủ khi dùng thuốc.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Liên quan đến calcium bromure :
Ở người :
- trong 3 tháng đầu của thai kỳ : không có nguy cơ.
- trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ : khi người mẹ đươc điều trị bằng bromure, có thể quan sát thấy ở trẻ sơ sinh có những dấu hiệu như giảm trương lực, ngủ li bì, phát ban ở da (đôi khi các dấu hiệu này xảy ra chậm).
Do thận trong, không nên kê toa bromure cho phụ nữ có thai.
Liên quan đến phénobarbital :
- Giai đoạn đầu của thai kỳ : ở động vật, thực nghiệm cho thấy có tác dụng gây quái thai ; tuy nhiên, ở người, các nghiên cứu thăm dò không cho thấy có tác dụng gây dị tật, do đó nguy cơ này đươc xem là hầu như rất thấp hoặc không có.
- Cuối thai kỳ và trước khi sanh : dùng barbiturate vào cuối thai kỳ có thể gây ức chế hô hấp hay hội chứng cai nghiện ở trẻ sơ sinh với các biểu hiện tăng kích động và co giật. Các biểu hiện này có thể xảy ra từ 1 đến 14 ngày sau khi sanh và có thể kéo dài trong vài tháng. Nên tăng cường theo dõi trẻ.
Lúc nuôi con bú :
Liên quan đến calcium bromure :
Chống chỉ định trong giai đoạn cho con bú vì bromure đươc bài tiết qua sữa mẹ với nguy cơ gây ngủ li bì, giảm trương lực và các sang thương da ở nhũ nhi.
Liên quan đến phénobarbital :
Không nên dùng trong giai đoạn cho con bú vì phénobarbital đươc bài tiết qua sữa mẹ.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Liên quan đến phénobarbital :
Không nên phối hơp :
- Alcool : rươu làm tăng tác dụng gây trầm dịu của phénobarbital. Việc giảm ý thức cảnh giác và tập trung có thể gây nguy hiểm khi đang lái xe hay vận hành máy móc.
Tránh dùng chung với rươu hay các thức uống và thuốc có chứa alcool.
- Estroprogestatif và progestatif (dùng để ngừa thai) : giảm hiệu lực của thuốc ngừa thai (do làm tăng sự chuyển hóa ở gan).
Nên dùng biện pháp ngừa thai khác, nhất là biện pháp cơ hoc.
Thận trong khi phối hơp :
- Acide folique : trường hơp bổ sung acide folique, nồng độ phénobarbital trong huyết tương giảm có thể dẫn đến giảm hoạt tính. Theo dõi lâm sàng, nếu cần có thể chỉnh liều phénobarbital trong thời gian phối hơp với acide folique và sau khi ngưng bổ sung acide folique.
- Acide valproique : tăng nồng độ của phénobarbital trong huyết tương với xuất hiện các dấu hiệu trầm dịu (do ức chế sự chuyển hóa ở gan), thường xảy ra ở trẻ em hơn là ở người lớn.
Theo dõi lâm sàng trong 15 ngày đầu phối hơp và giảm liều phénobarbital ngay khi xuất hiện các dấu hiệu an thần, nếu cần có thể kiểm tra nồng độ của phénobarbital trong huyết tương.
- Thuốc chống đông dạng uống : giảm tác dụng của thuốc chống đông dạng uống (do làm tăng sự chuyển hóa ở gan).
Kiểm tra thường hơn nồng độ prothrombine và theo dõi chỉ số INR. Chỉnh liều thuốc chống đông dạng uống trong thời gian điều trị bằng phénobarbital và 8 ngày sau khi ngưng phối hơp.
- Thuốc chống trầm cảm nhóm imipramine : thuốc chống trầm cảm nhóm imipramine làm thuận lơi cho việc xuất hiện cơn co giật toàn thân.
Theo dõi lâm sàng và tùy tình hình, có thể tăng liều thuốc chống động kinh.
- Ciclosporine (do suy luận từ phối hơp rifampicine + ciclosporine) : giảm nồng độ trong huyết tương và hoạt tính của ciclosporine do tăng chuyển hóa ở gan. Ngươc lại, sau khi ngưng dùng thuốc cảm ứng men thì nồng độ của ciclosporine sẽ tăng trở lại.
Tăng liều thuốc ức chế miễn dịch dưới sự kiểm tra nồng độ trong huyết tương và giảm liều trở lại khi ngưng dùng thuốc cảm ứng men.
- Corticoide (gluco-, minéralo-) (đường toàn thân) : giảm nồng độ trong huyết tương và hiệu lực của các corticoide do tăng chuyển hóa ở gan : hậu quả thường đặc biệt đáng quan tâm ở những bệnh nhân bị bệnh addison và trong trường hơp ghép cơ quan.
Theo dõi lâm sàng và sinh hoc, chỉnh liều corticoide trong thời gian phối hơp và sau khi ngưng dùng thuốc gây cảm ứng men.
- Digitoxine, acétyldigitoxine : giảm nồng độ trong huyết tương và hiệu lực của digitoxine (do làm tăng sự chuyển hóa ở gan).
Theo dõi lâm sàng, điện tâm đồ và tùy tình hình, kiểm tra digitoxine huyết. Nếu cần, điều chỉnh liều của digitoxine trong thời gian phối hơp và sau khi ngưng dùng phénobarbital hoặc thay bằng digoxine ít bị chuyển hóa hơn ở gan.
- Disopyramide : giảm nồng độ trong huyết tương và hiệu lực của thuốc chống loạn nhịp (do làm tăng nhanh tốc độ chuyển hóa của chất này ở gan).
Theo dõi lâm sàng, điện tâm đồ và tùy tình hình, kiểm tra nồng độ của disopyramide trong huyết tương. Nếu cần, chỉnh liều disopyramide trong thời gian phối hơp và sau khi ngưng dùng phénobarbital.
- Doxycycline : giảm nồng độ của doxycycline trong huyết tương. Cơ chế đề nghị : giảm thời gian bán hủy đào thải của doxycycline (do làm tăng nhanh tốc độ chuyển hóa ở gan).
Theo dõi lâm sàng và tùy tình hình, có thể điều chỉnh phác đồ điều trị (tăng liều hàng ngày hoặc chia làm 2 lần dùng mỗi ngày).
- Hydroquinidine, quinidine : giảm nồng độ trong huyết tương và hiệu lực của thuốc chống loạn nhịp do tăng sự chuyển hóa ở gan.
Theo dõi lâm sàng, điện tâm đồ và tùy tình hình, có thể kiểm tra nồng độ trong huyết tương; nếu cần, chỉnh liều thuốc chống loạn nhịp trong thời gian điều trị bằng thuốc gây cảm ứng men và sau khi ngưng phối hơp (do có nguy cơ gây quá liều quinidine).
- Itraconazole : giảm nồng độ trong huyết tương và hiệu lực của itraconazole.
Theo dõi lâm sàng và tùy tình hình, định lương nồng độ của itraconazole trong huyết tương và chỉnh liều nếu cần.
- Progabide : có thể làm tăng nồng độ của phénobarbital trong huyết tương. Có lẽ làm giảm nồng độ progabide trong huyết tương (tuy nhiên chưa đươc kiểm chứng).
Theo dõi lâm sàng và tùy tình hình, kiểm tra nồng độ của phénobarbital trong huyết tương. Chỉnh liều nếu cần.
- Théophylline (có thể suy rộng ra đối với các dẫn xuất của théophylline) : giảm nồng độ trong huyết tương và hoạt tính của théophylline do tăng chuyển hóa ở gan.
Theo dõi lâm sàng và nếu cần, kiểm tra théophylline huyết. Tùy tình hình, có thể chỉnh liều théophylline trong thời gian điều trị bằng thuốc gây cảm ứng men và sau khi ngưng phối hơp.
Một số phối hơp cũng nên lưu ý :
- Alprénolol, métoprolol, propranolol (thuốc chẹn bêta) : giảm nồng độ của thuốc chẹn bêta trong huyết tương với giảm tác dụng trên lâm sàng (do làm tăng nhanh tốc độ chuyển hóa của các thuốc này ở gan).
Nên thận trong, đối với các thuốc chẹn bêta đươc đào thải chủ yếu do biến đổi sinh hoc ở gan.
- Carbamazépine : giảm từ từ nồng độ trong huyết tương của carbamazépine và của chất chuyển hóa có hoạt tính của chất này, tuy nhiên hiệu lực chống động kinh không thay đổi.
Nên thận trong, đặc biệt khi biện luận kết quả của nồng độ các chất trong huyết tương.
- Các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác : đa số các thuốc chống trầm cảm, thuốc kháng histamine H1 gây ngủ, clonidine và các thuốc cùng ho, thuốc ngủ, dẫn xuất của morphine (giảm đau và trị ho), thuốc an thần kinh, thuốc an thần giải lo nhóm benzodiazépine.
Tăng ức chế thần kinh trung ương. Việc giảm ý thức cảnh giác và tập trung có thể gây nguy hiểm khi đang lái xe và vận hành máy móc.
- Méthotrexate : tăng độc tính trên máu do phối hơp tác dụng ức chế men dihydrofolate réductase.
- Phénytoine :
Trường hơp điều trị trước đó bằng phénobarbital và dùng thêm phénytoine, nồng độ của phénobarbital trong huyết tương sẽ tăng có thể dẫn đến các dấu hiệu ngộ độc (ức chế sự chuyển hóa do cạnh tranh).
Trường hơp điều trị trước đó bằng phénytoine và dùng thêm phénobarbital, thay đổi không dự đoán trước đươc :
- Thường thì nồng độ của phénytoine trong huyết tương giảm (do tăng chuyển hóa) nhưng không làm giảm hiệu lực chống co giật. Lúc ngưng phénobarbital, phénytoine có thể gây độc tính.
- Đôi khi nồng độ phénytoine có thể tăng (ức chế sự chuyển hóa do cạnh tranh).
Nên thận trong, đặc biệt khi biện luận kết quả của nồng độ các chất trong huyết tương.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Liên quan đến phénobarbital :
- Phản ứng da.
- Buồn ngủ.
- Rối loạn tâm thần kiểu gây lú lẫn ở người già.
Liên quan đến calcium bromure :
- Tổn thương ở da kiểu gây nổi ban dạng mụn trứng cá, ban brome.
- Rối loạn tâm – thần kinh : buồn ngủ ban ngày, lẫn lộn, mất định hướng thời gian – không gian, dễ bị kích động, ảo giác (đặc biệt ở người già hoặc dùng liều cao).
- Rối loạn tiêu hóa : chán ăn, táo bón.
- Có thể có ảnh hưởng đến liều dùng của các muối chlorure : một số trường hơp tăng chlorure máu giả đươc ghi nhận khi điều trị bằng bromure.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: – Có tiền sử quá mẫn cảm với barbiturate.
- Rối loạn chuyển hóa porphyrine.
- Suy hô hấp.
- Sỏi calci nếu dùng liều calci hàng ngày trên 100 mg.
- Suy thận nặng.

Leave a Reply