Méladinine 0,75 mg

HÃNG SẢN XUẤT: Chiesi Promedica
NHÓM THUỐC: Da – Lông – Móng – Tóc
THÀNH PHẦN: dung dịch dùng để bôi ngoài da 0,75% (tác động mạnh) : lo 24 ml.
THÀNH PHẦN
cho 100 ml dung dịch 0,75% (tác động mạnh)
Méthoxsalène 0,75 g
(Alcool)
DƯỢC LƯC
Thuốc gây cảm quang.
Méthoxsalène (hoặc 8-méthoxypsoralène) làm tăng sự nhạy cảm của da đối với tác động của tia cực tím của ánh nắng mặt trời hoặc nhân tạo. Phạm vi tác dụng của thuốc từ 320 đến 380 nm, hiệu lực tối đa thu đươc với 365 nm.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Trong khuôn khổ quang hóa trị liệu : vẩy nến, bạch biến, u sùi dạng nấm, u lympho bào T ở ngoài da, liken phẳng, hói, bệnh da do ánh sáng, bệnh tế bào bón ở da (mastocytose cutanée), viêm da do tạng dị ứng.
Dung dịch 0,75% (tác dụng mạnh) chỉ đươc kê toa sau khi đã sử dụng trước đó dung dịch 0,1% (tác dụng yếu).
CÁCH DÙNG: Dung dịch bôi ngoài da :
Lưu ý : Chỉ dùng đến dung dịch Méladinine có tác động mạnh 0,75% sau khi đã sử dụng trước đó dung dịch có tác động yếu 0,1%.
Điều trị bằng cách bôi tại chỗ dung dịch Méladinine đối với các sang thương tại chỗ và có giới hạn, và phải đươc dễ dàng bảo vệ khi cần ra nắng. Luôn luôn bắt đầu bằng dung dịch có tác động yếu 0,1% (nếu cần có thể pha loãng hơn nữa thành 1/2 hoặc 1/4 bằng dung dịch cồn 60°). Cần thật thận trong khi điều trị để tránh moi nguy cơ gây phỏng có thể xảy ra. Chấm thuốc bằng một que gòn và lưu ý không đươc chấm lem ra ngoài mép của sang thương tránh làm đậm màu phần da lành (không thẩm mỹ).
- Phơi nắng :
Phơi nắng vào cuối buổi trưa. Do nguy cơ bị phát ban chỉ xảy ra sau 48 giờ nên lúc đầu, các buổi phơi nắng phải cách nhau 48 giờ.
Thời gian phơi nắng phải đươc chấp hành nghiêm ngặt và tăng thật từ từ :
- tuần lễ đầu : 1/4 phút,
- tuần thứ nhì : nửa phút,
- tuần thứ ba : 1 phút,
- tuần thứ tư : 1,5 đến 2 phút.
Chỉ tăng thời gian phơi nắng nếu không xảy ra phát ban nặng 48 giờ sau buổi phơi cuối.
Trường hơp bệnh nhân đươc dung nạp tốt (da có sắc tố trở lại), có thể chuyển sang dung dịch 0,75% sau 3 đến 4 tuần và bắt đầu lại bằng thời gian 1/4 phút. Thời gian phơi cũng phải đươc tăng từ từ.
- Chiếu xạ UVA (liệu pháp PUVA) :
Chiếu UVA 1 giờ sau khi bôi thuốc, phải đươc tăng từ từ với liều từ 0,25 đến 0,50 joule/cm2 trong buổi chiếu đầu tiên. Giữa hai buổi chiếu, có thể tăng tối đa là 0,25 joule/cm2.
Trường hơp bị phát ban nặng hoặc bị ngứa, phải gián đoạn điều trị một thời gian và sau đó bắt đầu lại với liều tối đa là phân nửa của liều trước đó.
- Liệu pháp PUVA phối hơp với ngâm trong nước có pha méthoxsalène :
bồn ngâm đươc chuẩn bị bằng cách pha loãng 1 lo dung dịch Méladinine 0,75% trong 80 đến 100 lít nước để đạt nồng độ từ 1,8 đến 2,2 mg méthoxsalène/lít (ứng với 2 lo trong 1 bồn tắm người lớn 150 đến 160 lít).
Ngâm bệnh nhân trong vòng 15 phút, sau đó cho chiếu xa ngay sau khi lau khô (không chà mạnh mà chỉ dùng gạc lau nhẹ).
Liều UVA đươc khuyến cáo trong liệu pháp này thì thấp. Trong buổi chiếu xạ đầu tiên, dùng liều 0,20 joule/cm2, sau đó tăng chậm từ 0,02 đến 0,05 joule/cm2 trong mỗi buổi và đạt đến tối đa là 1 joule/cm2.
Sau mỗi buổi chiếu xạ (mặt trời hoặc UVA) : rửa thật sạch vùng da điều trị và bảo vệ không để tiếp xúc thêm nữa với ánh nắng mặt trời, bằng cách mặc quần áo, mang găng, quấn khăn choàng, vv và đối với những phần da không thể che chở đươc, phải bôi một lớp kem chống nắng, ít nhất trong vòng 1 ngày sau buổi chiếu xạ.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Không bao giờ đươc sử dụng Méladinine như là mỹ phẩm, đặc biệt là để làm cho màu da trở nên rám nắng, vì có nguy cơ gây phỏng.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
- Phơi nắng sau khi uống hoặc bôi Méladinine ngoài da sẽ có nguy cơ cao gây phỏng.
- Nên nghiêm túc tôn trong việc tăng từ từ thời gian chiếu tia cực tím (mặt trời hoặc dùng đèn) và sau mỗi đơt chiếu, tránh phơi nắng thêm bằng cách mặc quần áo thích hơp hoặc bôi kem chống nắng, nhằm mục đích tránh nguy cơ gây phỏng (điểm lưu ý nầy cần phải càng nghiêm ngặt hơn trong trường hơp dùng đường bôi ngoài da).
- Khuyên đeo kính đen có tác dụng hữu hiệu chống tia cực tím trong đơt chiếu tia cực tím sóng A (UVA), từ 8 đến 10 giờ, đôi khi đến 24 giờ sau đó.
- Ở phụ nữ trẻ, nên dùng các biện pháp ngừa thai trong thời gian điều trị.
- Nên lưu ý các nguy cơ tiềm tàng về lâu về dài của quang hóa liệu pháp và do đó cần phải theo dõi bệnh nhân thật sát : lão hóa da, biến đổi sắc tố, có thể gây ung thư biểu mô tế bào gai, đục thủy tinh thể.
LÚC CÓ THAI
Ở động vật, méthoxsalène không gây quái thai. Ở người, các số liệu lâm sàng trên các dân số nhỏ không cho thấy có tác dụng gây dị dạng nào đặc biệt. Tuy nhiên, các số liệu này không đầy đủ và do đó nên tránh điều trị trong thời kỳ mang thai.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Tránh dùng đồng thời với các thuốc có thể có đặc tính gây cảm quang.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Viên nén và dung dịch bôi ngoài da :
- Các trường hơp hơp phỏng nặng đã đươc ghi nhận.
- Tác dụng có liên quan đến quá liều của tia cực tím sóng A : ngứa, ban đỏ xảy ra sau khi dùng liệu pháp PUVA, các phản ứng dị ứng với ánh sáng, hiện tương Koebner, bệnh ngoài da dạng pemphigus có bong nước, lupus ban đỏ.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: .

Leave a Reply