Marcain 0,5% 4 ml

Marcain inj 0.5HÃNG SẢN XUẤT: Astrazeneca Singapor
NHÓM THUỐC: Gây tê, gây mê
THÀNH PHẦN: dung dịch tiêm dùng cho gây tê tủy sống : hộp 5 ống 4 ml – Bảng B.
THÀNH PHẦN
Marcain 0,5% :
cho 1 ml
Bupivacaine hydrocloride 5 mg
MÔ TẢ
Bupivacaine đươc xếp loại tác nhân ổn định màng tế bào và là thuốc gây tê thuộc nhóm amide.
Marcain 0,5% là 1 dung dịch vô khuẩn, đẳng trương, đẳng trong gồm bupivacaine hydrochloride trong nước dùng để tiêm theo tiêu chuẩn của dươc điển Anh. Độ pH của dung dịch đươc điều chỉnh bằng sodium hydroxide hoặc hydrochloride acid để ổn định trong khoảng 4,0-6,0 trong thời hạn sử dụng.
Marcain Spinal 0,5% Heavy là dung dịch vô khuẩn, đẳng trương, ưu trong gồm bupivacaine hydrochloride trong nước dùng để pha tiêm theo tiêu chuẩn dươc điển Anh. Dung dịch chứa 80 mg glucose/ml và có tỉ trong ở 20°C là 1,026. Độ pH của dung dịch đươc điều chỉnh bằng sodium hydroxide hoặc hydrochloride acid để ổn định trong khoảng 4,0-6,0 trong thời hạn sử dụng.
Dung dịch Marcain không chứa chất kháng khuẩn, chỉ nên sử dụng 1 lần và bỏ phần thuốc thừa.
DƯỢC LƯC
Bupivacaine, cũng như các thuốc gây tê khác, gây ức chế có hồi phục dẫn truyền xung động doc theo sơi thần kinh bằng cách ngăn cản dòng ion natri đi vào qua màng tế bào thần kinh. Người ta nghĩ thuốc gây tê nhóm amide có tác động tại kênh natri của màng tế bào thần kinh.
Thuốc gây tê có tác động tương tự trên màng tế bào có tính kích thích ở não và cơ tim. Nếu lương thuốc quá mức đi vào tuần hoàn hệ thống nhanh, triệu chứng và dấu hiệu nhiễm độc sẽ xuất hiện, xuất phát chủ yếu từ hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch.
Nhiễm độc hệ thần kinh trung ương thường xuất hiện trước tác động trên tim mạch do xảy ra ở nồng độ huyết tương thấp hơn. Tác động trực tiếp của thuốc gây tê trên tim bao gồm chậm dẫn truyền, ức chế co bóp cơ tim và cuối cùng là ngừng tim.
Tác động gián tiếp trên tim mạch, ví dụ tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim chậm, có thể xảy ra sau khi tiêm ngoài màng cứng hoặc tiêm tủy sống tùy theo mức độ ức chế giao cảm.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Bupivacaine là thuốc gây tê nhóm amide, có tác dụng kéo dài, có liên quan về mặt hóa hoc với lignocaine và mepivacaine. Tác động gấp khoảng 4 lần so với lignocaine. Khởi phát tác dụng phong bế chậm hơn lignocaine, đặc biệt khi gây tê dây thần kinh lớn. Bupivacaine có độ thanh thải huyết tương toàn phần 0,58 l/ phút, thể tích phân bố ở trạng thái hằng định là 73 lít, thời gian bán hủy 2,7 giờ và tỉ lệ chiết xuất ở mô gan là 0,40 sau khi tiêm tĩnh mạch thực nghiệm ở người lớn. Thời gian bán hủy pha cuối kéo dài khoảng 8 giờ ở trẻ sơ sinh. Ở trẻ lớn hơn 3 tháng tuổi, thời gian bán hủy tương tự ở người lớn. Bupivacaine gắn kết chủ yếu với a1- acid glycoprotein, với tỷ lệ gắn kết trong huyết tương là 96%.
Marcain 0,5% và Marcain Spinal 0,5% Heavy có tác dụng khởi phát nhanh và thời gian tác dụng kéo dài. Thời gian vô cảm của dung dịch đẳng trong là 3-5 giờ ở đoạn tủy sống ngực thấp và thắt lưng, và thời gian vô cảm của dung dịch ưu trong là 2-3 giờ ở đoạn T10 -T12.
Marcain 0,5% làm giãn cơ chi dưới trong 3-4 giờ, hơi ngắn hơn thời gian phong bế cảm giác.
Marcain Spinal 0,5% Heavy làm giãn cơ chi dưới với mức độ trung bình, kéo dài 2-3 giờ. Do phong bế vận động cơ bụng, dung dịch thích hơp với phẫu thuật bụng kéo dài 45-60 phút. Thời gian phong bế vận động không kéo dài hơn thời gian vô cảm.
Sự gia tăng a1- acid glycoprotein, xảy ra sau phẫu thuật lớn, có thể gây tăng nồng độ bupivacaine huyết tương toàn phần. Phần thuốc tự do vẫn không đổi. Điều này giải thích vì sao nồng độ huyết tương toàn phần ở trên ngưỡng gây độc 2,6-3,0 mg/l đươc dung nạp tốt trong trường hơp này.
Sau khi tiêm tĩnh mạch, bupivacaine đươc bài tiết qua nước tiểu chủ yếu dưới dạng chuyển hóa và 6% ở dạng không đổi. Sau khi tiêm ngoài màng cứng, lương bupivacaine ở dạng không đổi đươc tìm thấy trong nước tiểu khoảng 0,2%, pipecolylxylidine (PPX) khoảng 1% và 4-hydroxy-bupivacaine khoảng 0,1% liều đã đươc sử dụng.
Các thông số dươc động hoc có thể thay đổi đáng kể bởi 1 số yếu tố do bệnh gan và thận, đường sử dụng, tuổi bệnh nhân và thuốc đươc sử dụng đồng thời.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Marcain 0,5% và Marcain Spinal 0,5% Heavy đươc chỉ định để gây tê tủy sống. Marcain 0,5% thích hơp cho phẫu thuật chi dưới kéo dài 3-4 giờ khi cần có tác dụng giãn cơ.
CÁCH DÙNG: Cũng như với tất cả các loại thuốc gây tê, liều sử dụng thay đổi và tùy thuộc vào vùng da cần đươc gây tê, tình trạng mạch máu ở mô, số đoạn thần kinh cần phong bế, mức độ gây tê, và mức độ giãn cơ cần thiết, khả năng dung nạp ở từng cá thể, kỹ thuật gây tê, và tình trạng thực thể của bệnh nhân.
Nên sử dụng liều thấp nhất đạt hiệu quả gây tê. Nói chung, nồng độ và liều lương để gây tê phẫu thuật thì cao hơn để giảm đau.
Dạng trình bày của dung dịch tiêm Marcain nhằm để sử dụng một lần duy nhất. Cần loại bỏ phần dung dịch thừa khi đã mở ống tiêm.
Liều khuyến cáo sau chỉ đươc xem như một hướng dẫn sử dụng ở người lớn thể trạng bình thường :
Gây tê tủy sống trong phẫu thuật :
Mức độ lan tỏa của thuốc gây tê Marcain 0,5% và Marcain Spinal 0,5% Heavy phụ thuộc vào nhiều yếu tố, quan trong nhất là thể tích thuốc sử dụng, tư thế của bệnh nhân và tốc độ tiêm.
(a) Marcain 0,5% (đẳng trong)
3-4 ml Marcain 0,5% (15-20 mg bupivacaine hydrochloride).
Sự khác nhau về độ lan tỏa giữa liều 3 và 4 ml là xấp xỉ 2 đoạn đốt sống. Thể tích lớn hơn sẽ kéo dài thời gian gây tê lâu hơn 1/2-1 giờ ở đoạn thắt lưng và phong bế vận động cũng lâu hơn.
Khi tiêm 3 ml Marcain 0,5% vào gian đốt sống thắt lưng L3 – L4 với bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa song song mặt đất, độ lan tỏa sẽ lên đến T5-T7. Nếu bệnh nhân ở tư thế ngồi thì độ lan tỏa sẽ lên đến T4- T5.
Tác dụng của việc tiêm dưới khoang màng nhện quá 4,5 ml dung dịch Marcain 0,5% chưa đươc nghiên cứu và do đó không đươc khuyến cáo.
Ghi chú :
Hạ huyết áp :
Khi gây tê tủy sống, tụt huyết áp và/hoặc liệt khoảng gian sườn có thể xảy ra, do dùng quá liều hoặc đặt tư thế bệnh nhân không thích hơp. Hạ huyết áp và chậm nhịp tim có thể xảy ra do sự phong bế giao cảm.
Cần tham khảo y văn về kỹ thuật dùng Marcain trong gây tê tủy sống.
Trẻ em :
Sử dụng thuốc gây tê ở trẻ em đòi hỏi phải có hiểu biết sâu về sự khác biệt giữa người lớn và trẻ em để dùng liều thích hơp. Do thể tích dịch não tủy tương đối lớn ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần sử dụng liều lớn hơn thích hơp/kg thể trong để đạt cùng mức độ phong bế. Ở trẻ lớn hơn, sơi thần kinh ít đươc boc lớp vỏ myeline, cho phép thuốc khuếch tán dễ dàng hơn và khởi phát gây tê nhanh hơn, do đó chỉ cần nồng độ thấp hơn để phong bế dẫn truyền thần kinh. Hiện tương tụt huyết áp thường gặp sau khi phong bế tủy sống ở người lớn hiếm khi gặp ở trẻ em nhỏ hơn 8 tuổi.
Liều khuyến cáo của Marcain 0.5% và Marcain Spinal 0.5% Heavy sử dụng cho trẻ em như sau :
0,4-0,5 mg/kg ở trẻ cân nặng 5 kg
0,3-0,4 mg/kg ở trẻ cân nặng từ 5-15 kg.
0,25-0,3 mg/kg ở trẻ cân nặng hơn 15 kg.
Khởi phát tác dụng gây tê chậm hơn lignocaine và kéo dài 60-120 phút.
Bệnh nhân lớn tuổi hoặc suy nhươc :
Mặc dù không cần thay đổi liều theo milligram, nhưng nên sử dụng thể tích nhỏ hơn.
QUÁ LIỀU
Những trường hơp cấp cứu do sử dụng thuốc gây tê thường có liên quan đến nồng độ thuốc cao trong huyết tương (xem Tác Dụng Ngoại Ý và Chú Ý Đề Phòng Và Thận Trong Lúc Dùng). Do liều cần thiết để gây tê tủy sống quá nhỏ (£20% hơn liều cần gây tê ngoài màng cứng), nhiễm độc toàn thân cấp tính hầu như không xảy ra và chưa đươc ghi nhận.
Khi tiêm nhầm thuốc gây tê vào mạch máu, phản ứng nhiễm độc xảy ra trong 1-3 phút. Khi quá liều, nồng độ đỉnh huyết tương không thể đạt đươc trong vòng 20-30 phút, phụ thuộc vị trí tiêm, và các dấu hiệu nhiễm độc sẽ xuất hiện chậm. Phản ứng nhiễm độc chủ yếu có liên quan hệ thần kinh trung ương và hệ tim mạch.
Triệu chứng của nhiễm độc cấp tính :
Nhiễm độc hệ thần kinh trung ương là đáp ứng tăng dần với triệu chứng và dấu hiệu ngày càng nặng. Các triệu chứng đầu tiên là dị cảm quanh miệng, tê lưỡi, choáng váng, tăng thính lực, ù tai. Rối loạn thị giác và run cơ nặng hơn và xuất hiện trước khi bắt đầu co giật toàn thân. Các dấu hiệu này không đươc hiểu lầm là biểu hiện rối loạn hành vi.
Có thể tiếp theo là mất tri thức và cơn động kinh lớn. Các biểu hiện này có thể kéo dài từ vài giây đến nhiều phút. Giảm oxy hít vào và tăng carbon dioxit máu xảy ra nhanh sau cơn co giật do tăng hoạt động cơ, cùng với trở ngại sự hô hấp bình thường và tổn thương đường hô hấp.
Trường hơp nặng có thể ngừng thở. Nhiễm toan làm tăng độc tính của thuốc gây tê. Sự hồi phục là nhờ tái phân bố lại thuốc gây tê xuất phát từ hệ thần kinh trung ương và quá trình chuyển hóa. Có thể hồi phục nhanh trừ khi đã tiêm lương lớn thuốc gây tê.
Nhiễm độc tim mạch là biểu hiện của trường hơp nặng hơn. Hạ huyết áp, chậm nhịp tim, rối loạn nhịp tim và thậm chí ngừng tim có thể xảy ra do nồng độ toàn thân của thuốc gây tê cao.
Dấu hiệu nhiễm độc hệ tim mạch thường xảy ra sau các dấu hiệu nhiễm độc hệ thần kinh trung ương, trừ khi bệnh nhân đang dùng thuốc gây mê hoặc thuốc an thần mạnh như benzodiazepine hoặc barbiturate.
Xử trí quá liều :
Nếu các dấu hiệu nhiễm độc toàn thân cấp tính xuất hiện, phải ngừng tiêm thuốc gây tê ngay lập tức.
Nếu co giật xảy ra, cần lập tức duy trì đường thở và thông khí hỗ trơ hoặc thông khí kiểm soát với oxy, bằng mặt nạ qua hệ thống dẫn khí áp lực dương. Cần đánh giá tình trạng tuần hoàn và luôn ghi nhớ rằng các thuốc đươc sử dụng để chống co giật có tác động ức chế tuần hoàn khi tiêm tĩnh mạch. Nếu co giật kéo dài mặc dù đã hỗ trơ hô hấp đầy đủ, và nếu tình trạng tuần hoàn cho phép, có thể tiêm tĩnh mạch các thuốc chống co giật thích hơp như barbiturate tác dụng rất nhanh (chẳng hạn như thiopentone) hoặc benzodiazepine (chẳng hạn như diazepam). Thầy thuốc nên tìm hiểu về các thuốc này trước khi sử dụng thuốc gây tê. Nếu rung thất hoặc ngừng tim xảy ra, phải tiến hành điều trị hồi sức tim mạch có hiệu quả và duy trì một thời gian đủ lâu, nếu cần thiết.
Thở oxy và thông khí tối ưu, hỗ trơ tuần hoàn cũng như điều trị nhiễm toan có tầm quan trong quyết định.
BẢO QUẢN
Dạng ống thủy tinh Marcain có hạn dùng 3 năm khi bảo quản ở 25°C.
Dạng ống Polyam Duofit có hạn dùng 2 năm khi đươc bảo quản dưới 25°C.
Thuốc gây tê phản ứng với các kim loại có thể gây ra sự phóng thích các ion tương ứng, mà nếu tiêm vào có thể gây nên những kích thích nặng tại chỗ tiêm. Cần thận trong để tránh sự tiếp xúc kéo dài giữa Marcain và bề mặt kim loại như bồn chứa, cannula, bơm tiêm có kim loại.
Không sử dụng dung dịch bị đổi màu và lương thuốc còn dư. Nên sử dụng ngay sau khi mở ống thuốc.
Không nên tái hấp tiệt trùng ống Polyamp Duofit. Hấp tiệt trùng có thể làm thay đổi thành phần glucose dẫn đến giảm thời gian gây tê của dung dịch ưu trong. Do vậy không nên tái hấp ống thuốc Marcain Spinal 0,5% Heavy.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
1. Khi sử dụng bất kỳ một thuốc gây tê nào, thì phương tiện và thuốc hồi sức, kể cả oxy, phải sẵn có đển xử trí các tác dụng ngoại ý trên hệ tim mạch, hô hấp, hệ thần kinh trung ương.
Do khả năng hạ huyết áp và chậm nhịp tim sau phong bế dây thần kinh lớn, nên đặt canula tĩnh mạch trước khi tiêm thuốc tê.
Chậm trễ trong xử trí thích hơp nhiễm độc do liều sử dụng, kém thông khí vì bất kỳ lý do nào và/hoặc thay đổi nhạy cảm có thể dẫn đến nhiễm acid, ngừng tim và tử vong.
2. Nên tiêm chậm, hút bơm tiêm thường xuyên để tránh tiêm nhầm vào mạch máu gây ra phản ứng nhiễm độc.
3. Cần theo dõi cẩn thận và thường xuyên các dấu hiệu hô hấp, tim mạch và trạng thái ý thức của bệnh nhân sau mỗi lần tiêm thuốc gây tê. Luôn ghi nhớ rằng ở những lần tiêm như vậy, bồn chồn, lo lắng, ù tai, chóng mặt, hoa mắt, run, trầm cảm, hoặc ngủ gà ngủ gật có thể là các dấu hiệu cảnh báo sớm của nhiễm độc thần kinh trung ương.
3. Cần theo dõi cẩn thận và thường xuyên các dấu hiệu hô hấp, tim mạch và trạng thái ý thức của bệnh nhân sau mỗi lần tiêm thuốc gây tê. Luôn ghi nhớ rằng ở những lần tiêm như vậy, bồn chồn, lo lắng, ù tai, chóng mặt, hoa mắt, run, trầm cảm, hoặc ngủ gà ngủ gật có thể là các dấu hiệu cảnh báo sớm của nhiễm độc thần kinh trung ương.
4. Tính an toàn và hiệu quả của Marcain phụ thuộc vào liều dùng thích hơp, kỹ thuật chính xác và sự thận trong đầy đủ. Cần tham khảo y văn về các kỹ thuật chuyên khoa và điều cần lưu ý đối với các thủ thuật gây tê tủy sống.
5. Nên sử dụng liều thấp nhất đạt hiệu quả gây tê (xem Liều Lương và Cách Sử Dụng). Tiêm nhiều lần Marcain có thể gây tích lũy bupivacaine hoặc các dạng chuyển hóa của nó và có thể dẫn đến nhiễm độc.
Khả năng dung nạp khi nồng độ thuốc trong máu tăng thay đổi theo tình trạng bệnh nhân. Bệnh nhân lớn tuổi, trẻ em hoặc bệnh nhân mất sức, bao gồm bệnh nhân có block dẫn truyền một phần hoặc toàn phần, bệnh gan tiến triển, hoặc suy chức năng thận cần phải giảm liều phù hơp tuổi và tình trạng thực thể.
Thận trong khi sử dụng bupivacaine ở trẻ em dưới 12 tuổi.
6. Thận trong khi sử dụng bupivacaine ở bệnh nhân động kinh, rối loạn dẫn truyền cơ tim, chậm nhịp tim, sốc nặng, nhiễm độc digitalis. Bupivacaine cũng cần đươc sử dụng thận trong đối với những bệnh nhân có rối loạn chức năng tim mạch do những đối tương này có ít khả năng bù trừ các thay đổi chức năng liên quan đến sự kéo dài thời gian dẫn truyền nhĩ thất do thuốc.
Ở những bệnh nhân có hội chứng Stock-Adams hoặc hội chứng Wolff-Parkinson-White, cần đặc biệt thận trong để tránh tiêm nhầm vào động-tĩnh mạch.
7. Thuốc gây tê nên đươc sử dụng thận trong ở những bệnh nhân có bệnh lý thần kinh bất bình thường trước đó, ví dụ bệnh nhươc cơ. Thận trong trong gây tê cột sống, chùm đuôi ngựa, ngoài màng cứng, khi có bệnh lý thần kinh trung ương nghiêm trong, hoặc bệnh lý tủy sống, ví dụ viêm màng não, tắc nghẽn lưu thông dịch não tủy, xuất huyết nội so hoặc trong tủy sống, bướu, viêm tủy xám bại liệt, giang mai, lao, hoặc tổn thương ở tủy sống do di căn.
8. Bupivacaine đươc thải trừ chủ yếu bởi sự chuyển hóa ở gan và những thay đổi về chức năng gan có thể có ảnh hưởng đáng kể đến chuyển hóa của bupivacaine.
Bupivacaine có độ thanh thải phụ thuộc vào phần không gắn kết của nó và độ thanh thải chuyển hóa nội sinh. Do đó bupivacaine cần đươc sử dụng thận trong ở những bệnh nhân có bệnh gan nặng.
9. Thận trong khi sử dụng ở những bệnh nhân suy chức năng thận nặng do nhiễm toan và nồng độ protein huyết tương giảm thường gặp ở những bệnh nhân này có thể làm tăng nguy cơ nhiễm độc toàn thân. Bệnh nhân cường giáp cũng dễ nhiễm độc bupivacaine hơn.
10. Thận trong khi sử dụng ở những bệnh nhân có tiền sử nhạy cảm với thuốc.
11. Bupivacaine cần đươc sử dụng thận trong ở bệnh nhân có yếu tố di truyền dễ bị tăng thân nhiệt ác tính, do tính an toàn của các thuốc gây tê nhóm amide ở những bệnh nhân này chưa đươc xác định rõ. Nên có sẵn một quy trình chuẩn để xử trí trường hơp tăng thân nhiệt ác tính.
Khả năng gây ung thư/ Đột biến/ Rối loạn khả năng sinh sản :
Những nghiên cứu dài hạn về hầu hết thuốc gây tê ở động vật, kể cả bupivacaine, để đánh giá khả năng gây ung thư, vẫn chưa đươc thực hiện. Khả năng gây đột biến hoặc ảnh hưởng trên khả năng sinh sản vẫn chưa đươc xác định. Chưa có dữ liệu chứng minh ở người cho thấy bupivacaine gây ung thư hoặc gây đột biến hoặc làm rối loạn khả năng sinh sản.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy :
Tùy thuộc liều sử dụng, thuốc gây tê có thể có ảnh hưởng nhẹ lên chức năng tâm thần và phối hơp và có thể làm suy yếu tạm thời khả năng phối hơp và vận động.
LÚC CÓ THAI
Tính an toàn trong sử dụng bupivacaine ở phụ nữ có thai chưa đươc xác định. Mặc dù buvivacaine đã đươc sử dụng rộng rãi trong phẫu thuật ở phụ nữ có thai và chưa ghi nhận tác động có hại nào đối với mẹ và bào thai, vẫn chưa có nghiên cứu có đối chứng về tác động của bupivacaine trên sự phát triển bào thai ở phụ nữ có thai. Do đó, cần sử dụng thận trong trong thai kỳ hơn là trong giai đoạn chuyển dạ.
Bupivacaine đươc sử dụng hiệu quả để giảm đau trong gây tê sản khoa và tác dụng ngoại ý trong giai đoạn chuyển dạ hoặc lúc sanh rất hiếm. Sau khi gây tê ngoài màng cứng với bupivacaine ở phụ nữ chuyển dạ, bupivacaine đi qua hàng rào nhau thai. Tuy nhiên, nồng độ thuốc tại tĩnh mạch rốn thấp hơn so với nồng độ thuốc trong tuần hoàn máu mẹ. Nên kiểm tra nồng độ đường huyết ở trẻ sơ sinh sau khi gây tê vùng trong sản khoa.
LÚC NUÔI CON BÚ
Bupivacaine đi qua sữa mẹ. Lương bupivacaine trong sữa người mẹ đang sử dụng bupivacaine đường tiêm hầu như không tích tụ đáng kể ở trẻ bú mẹ.
Ở nồng độ thuốc trong huyết thanh của mẹ lên đến 0,45 mg/ml khi sử dụng bupivacaine gây tê ngoài màng cứng trong trường hơp sanh thường, bupivacaine vẫn không đươc phát hiện trong sữa mẹ trong 24 giờ đầu sau khi sanh (mức phát hiện là 0,02 mg/ml).
Khả năng xảy ra phản ứng dị ứng hoặc phản ứng đặc ứng do bupivacaine ở trẻ bú mẹ vẫn còn cần đươc xác định.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Thuốc chống loạn nhịp :
Thuốc gây tê nhóm amide, như bupivacaine, nên đươc dùng thận trong ở những bệnh nhân đang dùng thuốc chống loạn nhịp, ví dụ mexiletine, do làm tăng khả năng ảnh hưởng trên tim.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Tác dụng ngoại ý do bupivacaine tương tự các tác dụng ngoại ý đươc quan sát thấy ở các thuốc gây tê khác thuộc nhóm amide. Nhìn chung, các phản ứng này có liên quan đến liều sử dụng và có thể do nồng độ thuốc trong huyết tương cao gây ra do quá liều hoặc do hấp thu nhanh, hoặc do mẫn cảm, phản ứng đặc ứng hoặc giảm dung nạp ở một số bệnh nhân.
Một phản ứng ngoại ý hiếm gặp, nhưng nặng, sau khi tiêm tủy sống bupivacaine là sự phong bế tủy sống quá mức (hoàn toàn). Sự phong bế tủy sống hoàn toàn sẽ dẫn đến ức chế hô hấp và tim mạch. Sự ức chế hệ tim mạch là do phong bế giao cảm quá mức có thể dẫn đến hạ huyết áp nặng và chậm nhịp tim hoặc thậm chí ngừng tim. Giảm thông khí là do sự ức chế cơ hô hấp kể cả cơ hoành.
Khi sử dụng liều thấp, phản ứng ngoại ý toàn thân hiếm khi xảy ra với gây tê tủy sống. Sau đây là những phản ứng thường đươc ghi nhận trong các phản ứng ngoại ý :
Hệ thần kinh trung ương :
Các biểu hiện trên thần kinh trung ương là kích thích và/hoặc ức chế và có thể đặc trưng bởi choáng váng, bồn chồn, sơ hãi, thờ ơ, lú lẫn, chóng mặt, ngủ gà ngủ gật, ù tai, hoa mắt, nôn mửa, cảm giác nóng, lạnh hoặc tê, co rút, run, co giật, mất tri giác, ức chế hô hấp và/hoặc ngừng hô hấp, kích động, nuốt khó và nói lắp.
Biểu hiện kích thích có thể xảy ra rất nhanh hoặc không xảy ra, trong trường hơp này, biểu hiện đầu tiên của sự nhiễm độc có thể là lơ mơ rồi mất tri giác và ngừng hô hấp. Trạng thái lơ mơ khi sử dụng bupivacaine thường là dấu hiệu sớm cảnh báo nồng độ thuốc cao trong máu và có thể xảy ra do hấp thu nhanh. Ở bệnh nhân mất tri giác, cần theo dõi dấu hiệu suy tuần hoàn, vì tác động trên thần kinh trung ương có thể không rõ ràng như là 1 biểu hiện sớm của sự nhiễm độc trong một số trường hơp có thể tiến triển đến co giật và cuối cùng là ức chế và/hoặc ngừng hô hấp. Cần có thiết bị hồi sức và thuốc chống co giật để xử trí. những bệnh nhân này (xem phần Quá liều).
Hệ tim mạch :
Biểu hiện trên tim mạch thường là ức chế và đặc trưng bởi nhịp tim chậm, hạ huyết áp, trụy tim mạch, có thể dẫn đến ngừng tim.
Huyết động hoc :
Gây tê vùng có thể dẫn đến hạ huyết áp ở mẹ sử dụng bupivacaine.
Dị ứng :
Phản ứng dị ứng đươc đặc trưng bởi tổn thương da, mề đay, phù nề hoặc phản ứng phản vệ.
Dị ứng với thuốc gây tê nhóm amide rất hiếm gặp. Nếu xảy ra phản ứng dị ứng, cần đươc xử trí theo các biện pháp thường qui.
Sự phát hiện mẫn cảm bằng test da không có giá trị đáng tin cậy.
Thần kinh :
Tần suất của tác dụng ngoại ý khi sử dụng thuốc gây tê có thể liên quan đến tổng liều sử dụng và phụ thuộc vào từng loại thuốc, đường sử dụng và tình trạng sinh lý của bệnh nhân.
Tác dụng ngoại ý xảy ra sau khi tiêm tủy sống thuốc gây tê có thể bao gồm sự phong bế tủy sống ở các mức độ khác nhau (kể cả phong bế hoàn toàn tủy sống), hạ huyết áp thứ phát do phong bế tủy sống, mất khả năng kiểm soát bàng quang và ruột, mất cảm giác vùng tầng sinh môn, và khả năng sinh dục.
Sự rối loạn kéo dài về vận động, cảm giác và/hoặc thần kinh tự chủ (kiểm soát cơ vòng) của một số đoạn tủy sống thấp với khả năng hồi phục chậm (nhiều tháng), hoặc không hoàn toàn đã đươc ghi nhận ở một số hiếm trường hơp. Đau lưng và nhức đầu cũng đươc lưu ý sau khi gây tê tủy sống.
Các tác động do quá liều và tiêm nhầm vào mạch máu có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương và/hoặc hệ tim mạch (xem Quá liều). Tiêm nhầm liều cao thuốc gây tê vào khoang dưới màng nhện có thể dẫn đến ức chế thần kinh trung ương, ngừng hô hấp và trụy tim mạch.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: 1. Dị ứng và tăng nhạy cảm với thuốc gây tê nhóm amide. Test da chỉ có giá trị hạn chế trong việc phát hiện tính nhạy cảm với thuốc.
2. Tiêm tĩnh mạch.
3. Bệnh lý của hệ thống não tủy như : viêm màng não, khối u (nguyên phát hoặc thứ phát), viêm tủy xám bại liệt, thoái hóa tủy sống bán cấp, xuất huyết nội so, bệnh thoái hóa myelin và tăng áp lực nội so.
4. Một số bệnh lý về xương cột sống như lao, khối u và viêm xương tủy xương.
5. Viêm khớp, viêm đốt sống và các bệnh khác của cột sống làm cho không thể choc dò tủy sống.
6. Thuốc gây tê là chống chỉ định gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống ở những bệnh nhân hạ huyết áp chưa đươc điều chỉnh hoặc có rối loạn đông máu hoặc đang điều trị với thuốc chống đông máu.
7. Không đươc gây tê khi có viêm và/hoặc nhiễm trùng ở vùng tiêm hoặc khi có nhiễm khuẩn huyết.
8. Thiếu máu ác tính đi kèm với thoái hóa tủy sống bán cấp.
9. Sốc do tim hoặc do giảm thể tích máu.

Leave a Reply