Lacipil 4mg

Lacipil 4mgHÃNG SẢN XUẤT: Glaxowellcome
NHÓM THUỐC: Tăng huyết áp
THÀNH PHẦN: viên nén 4 mg : hộp 28 viên.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Lacidipine 4 mg
DƯỢC LƯC
Lacidipine là một chất ức chế calci mạnh và đặc hiệu với tác động chon loc cao đối với kênh calci ở cơ trơn mạch máu.
Tác dụng chính của thuốc là làm giãn tiểu động mạch ngoại vi, giảm kháng lực mạch máu ngoại biên và giảm huyết áp.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Khi dùng đường uống, Lacipil đươc hấp thu nhanh nhưng ít ở đường tiêu hóa. Thuốc mất hoạt tính một phần lớn đầu tiên ở gan. Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt đươc trong khoảng 30 đến 150 phút.
Lacidipine đươc đào thải chủ yếu do sự chuyển hóa ở gan. Không có bằng chứng cho thấy thuốc gây cảm ứng hay ức chế các enzyme ở gan. Khoảng 70% liều dùng đươc đào thải dưới dạng chuyển hóa qua phân và phần còn lại đươc đào thải dưới dạng chuyển hóa qua nước tiểu.
Độ khả dụng sinh hoc tuyệt đối của Lacipil trong khoảng 2-9%. Thời gian bán hủy trong huyết tương là 8 giờ, tuy nhiên thời gian này có thay đổi tùy theo từng cá thể.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Lacipil có thể đươc dùng riêng biệt như một biện pháp trị liệu bệnh cao huyết áp hay dùng kết hơp với những tác nhân làm hạ huyết áp khác như thuốc chẹn bêta và thuốc lơi tiểu.
CÁCH DÙNG: Liều khởi đầu khuyến cáo là 4 mg một lần mỗi ngày. Thuốc nên uống vào một thời điểm nhất định trong ngày, tốt nhất vào buổi sáng, không cần phụ thuộc vào bữa ăn. Nếu cần có thể tăng liều lên 6 mg sau một thời gian cho phép để tác dụng dươc lý đươc nhận biết rõ ràng. Trong thực tế, thời gian này không nên dưới 3-4 tuần trừ khi tình trạng lâm sàng đòi hỏi cần tăng liều nhanh hơn.
Ở bệnh nhân mắc bệnh gan, tính khả dụng sinh hoc của Lacipil có thể gia tăng và tác dụng hạ huyết áp cao hơn. Trong những trường hơp đó, liều khởi đầu nên đươc giảm xuống 2 mg, dùng mỗi ngày một lần. Do Lacipil không đươc đào thải qua thận, liều lương dùng cho bệnh nhân mắc bệnh thận không cần phải điều chỉnh. Liều khởi đầu cho người già nên dùng 2 mg mỗi ngày một lần. Có thể tăng lên 4 hoặc 6 mg mỗi ngày như mô tả ở trên.
Không có báo cáo gì về sử dụng Lacipil ở trẻ em.
Điều trị có thể kéo dài không giới hạn.
BẢO QUẢN
Ở nhiệt độ dưới 30°C. Viên nén Lacipil nên đươc bảo quản tránh ánh sáng và do đó không đươc tháo ra khỏi bao bì khi chưa dùng. Nếu cần phải bẻ một nửa viên 4 mg, phân nửa chưa dùng phải đươc cất giữ trong bao bì của thuốc và nên dùng trong vòng 48 giờ.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Cần cảnh giác khả năng Lacipil có thể gây giãn cơ tử cung khi sanh.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Trong các nghiên cứu chuyên ngành. Lacipil không cho thấy có ảnh hưởng lên chức năng khởi nhịp của nút xoang hay gây ra sự kéo dài dẫn truyền trong nút nhĩ thất.
Tuy nhiên, cũng nên chú ý đến khả năng tác dụng trên lý thuyết của chất đối kháng calci ảnh hưởng đến hoạt động của các nút xoang và nút nhĩ thất, và theo dõi cẩn thận bệnh nhân có tiền sử bất thường.
Nghiên cứu trên những người tình nguyện khỏe mạnh và trên súc vật, Lacipil không ức chế sự co cơ tim. Tuy nhiên, như với những chất đối kháng calci khác, nên cẩn thận khi dùng Lacipil cho người có áp lực đổ đầy thất thấp.
Cần cẩn thận khi dùng ở bệnh nhân suy gan vì có thể làm tăng tác dụng hạ huyết áp
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Không có số liệu về tính an toàn của Lacipil khi dùng cho phụ nữ mang thai. Nghiên cứu trên súc vật cũng cho thấy không có tác dụng gây quái thai cũng như làm giảm tăng trưởng.
Nghiên cứu về khả năng bài tiết qua sữa ở súc vật, cho thấy rằng Lacipil (hay chất chuyển hóa của nó) hầu như không đươc bài tiết ra qua sữa. Chỉ nên dùng Lacipil cho phụ nữ có thai hay nuôi con bú khi lơi ích điều trị cho người mẹ cao hơn khả năng có thể xảy ra tác dụng ngoại ý cho thai nhi hay trẻ sơ sinh.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Dùng đồng thời Lacipil với những tác nhân làm hạ huyết áp khác như thuốc lơi tiểu và thuốc chẹn bêta có thể làm tăng thêm tác dụng hạ huyết áp.
Nồng độ trong lacidipine trong huyết tương có thể tăng lên khi dùng đồng thời với cimétidine.
Lacipil liên kết mạnh (hơn 95%) với albumine và a1-glycoprotéine. Không có vấn đề tương tác đặc hiệu trong các nghiên cứu giữa thuốc và các tác nhân làm hạ huyết áp khác như các thuốc chẹn bêta và thuốc lơi tiểu hay digoxine.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Lacipil thường đươc dung nạp rất tốt. Vài trường hơp có thể bị một số tác dụng phụ nhẹ liên quan đến tác động dươc lý của sự giãn mạch ngoại biên. Tác dụng phụ thường thấy nhất là nhức đầu, đỏ bừng mặt, phù nề, chóng mặt và đánh trống ngực. Các tác dụng này thường thoáng qua và biến mất khi tiếp tục điều trị bằng Lacipil.
Đôi khi các chứng suy nhươc, nổi ban ở da (bao gồm hồng ban và ngứa ngáy) đau bao tử, buồn nôn và đa niệu có đươc ghi nhận.
Cũng như các chất đối kháng calci khác, đau ngực, sưng nướu răng có đươc ghi nhận xuất hiện ở một số ít trường hơp.
Lacipil không liên quan đến các thay đổi đáng kể về xét nghiệm hay về huyết hoc. Người ta cũng đã ghi nhận một sự gia tăng phosphatase kiềm có hồi phục trong một số trường hơp rất hiếm.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Mẫn cảm đối với bất cứ thành phần nào của thuốc

Leave a Reply