Invirase

HÃNG SẢN XUẤT: Hoffmann – La Roche
NHÓM THUỐC: Kháng virus
THÀNH PHẦN: viên nang 200 mg : hộp 270 viên.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Saquinavir 200 mg
DƯỢC LƯC
Saquinavir là một chất ức chế mạnh và có chon loc của HIV protéinase. Không giống các đồng đẳng nucléoside (zidovudine, vv), saquinavir tác dụng trực tiếp lên men của virus đích của nó và không cần hoạt hóa bởi sự chuyển hóa. Saquinavir có hoạt tính ở nồng độ rất thấp (nmol) và có chỉ số trị liệu kháng virus cao in vitro (> 1000).
Các thử nghiệm trên mẫu cấy tế bào cho thấy rằng saquinavir cho một tác động bổ sung với tác dụng đồng vận kháng virus HIV-1 trong phối hơp hai hoặc ba chất ức chế ngươc transcriptase khác nhau (bao gồm zidovudine, zalcitabine, didanosine) mà không làm độc tính gia tăng.
Không có đề kháng chéo giữa saquinavir và các chất ức chế ngươc transcriptase. Các mẫu cô lập đề kháng zidovudine của HIV-1 đã cho thấy hoàn toàn nhạy cảm với saquinavir. In vitro, việc virus giảm tính nhạy cảm với saquinavir hầu như rất hiếm xảy ra.
Đề kháng chéo rộng rãi với những tác nhân ức chế protéine khác hầu như không xảy ra. Saquinavir có thể đươc sử dụng không làm suy hại việc chuyển sang, hoặc kết hơp với tác nhân ức chế protéinase HIV khác mà những chất này không bị ảnh hưởng trầm trong bởi sự đột biến tại amino-acide 48 hay 90. Có bằng chứng rằng sự kết hơp saquinavir với zidovudine làm giới hạn sự đề kháng của virus với zidovudine, và rằng liệu pháp kết hơp với zidovudine và zalcitabine có thể làm giảm sự đề kháng đối với saquinavir.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu :
Mức độ hấp thu của saquinavir gia tăng đáng kể khi dùng chung với thức ăn. Sự hiện diện của thức ăn cũng làm gia tăng thời gian để đạt đến nồng độ tối đa trong huyết tương từ 2,4 giờ đến 3,8 và gia tăng nồng độ tối đa trung bình trong huyết tương (Cmax) từ 3,0 ng/ml đến 35,5 ng/ml. Tác động của thức ăn kéo dài đến 2 giờ sau khi ăn.
Với sự có mặt của thức ăn, sinh khả dụng tuyệt đối trung bình là 4%. Người ta nghĩ rằng độ sinh khả dụng thấp là do sự kết hơp với một sự hấp thu không hoàn toàn (khoảng 30%) và sự chuyển hóa rộng rãi qua tĩnh mạch cửa.
Phân phối :
Invirase phân phối rộng rãi đến các mô. Thể tích phân phối ở trạng thái ổn định trung bình sau khi tiêm tĩnh mạch liều 12 mg saquinavir là 700 lít. Saquinavir có khả năng gắn kết cao với protéine (khoảng 98%) và độc lập với nồng độ trong khoảng 15-700 ng/ml.
Chuyển hóa :
Invirase đươc chuyển hóa rộng rãi qua gan. Hơn 96% liều tiêm tĩnh mạch có đánh dấu phóng xạ xuất hiện trong phân trong vòng 48 giờ sau khi dùng thuốc. Chuyển hóa của saquinavir cho một dãy các hơp chất mono và di-hydroxylate hóa không có hoạt tính nhờ trung gian của P450 với isoenzyme đặc hiệu, CYP3A4, chịu trách nhiệm đối với hơn 90% chuyển hóa ở gan. Sự đào thải saquinavir qua thận rất ít (< 4%).
Đào thải :
Thuốc có độ thanh thải toàn thân nhanh chóng là 80 lít/giờ, gần với tốc độ dòng chảy của huyết tương trong gan. Thanh thải toàn thân như nhau sau khi tiêm tĩnh mạch 6 mg, 36 mg và 72 mg tiêm truyền trong 3 giờ. Thời gian lưu trung bình của thuốc là 7 giờ.
Sau các liều uống lặp đi lặp lại (25-600 mg ba lần mỗi ngày) với sự hiện diện của thức ăn, sự gia tăng tiếp xúc của thuốc (50 lần) nhiều hơn so với tỷ lệ trực tiếp với sự gia tăng của liều (24 lần). Sự tích tụ sau khi uống nhiều liều thuốc (25-600 mg, 3 lần mỗi ngày) trên những bệnh nhân nhiễm HIV là rất ít. Diện tích dưới đường cong (AUC) tăng 150% ở trạng thái ổn định khi so sánh với các liều đơn.
Dùng đồng thời Invirase với zalcitabine và/hoặc zidovudine đã đươc nghiên cứu ở người lớn. Các số liệu dươc động hoc chứng tỏ rằng sự hấp thu, chuyển hóa và đào thải của mỗi thuốc là không thay đổi khi chúng đươc dùng đồng thời.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Điều trị kết hơp :
Invirase đươc chỉ định kết hơp với zalcitabine (Hivid) và/hoặc zidovudine (Retrovir) để điều trị bệnh nhân ngưòi lớn đã dùng zidovudine khi bệnh HIV tiến triển với số lương CD4 £ 300 tế bào/mm3.
Đối với bệnh nhân có thể dung nạp với liệu pháp kháng retrovirus bằng đồng đẳng nucléoside, nên kết hơp Invirase với zalcitabine và/hoặc zidovudine.
Điều trị riêng rẽ :
Invirase đươc chỉ định riêng rẽ cho bệnh nhân người lớn bệnh HIV tiến triển không thể dung nạp liệu pháp với các đồng đẳng nucléoside.
CÁCH DÙNG: Điều trị kết hơp :
Phác đồ khuyến cáo cho điều trị kết hơp là 600 mg Invirase ba lần mỗi ngày trong vòng 2 giờ sau khi ăn ; mỗi lần dùng thuốc trong ngày nên dùng đồng thời với 0,75 mg zalcitabine và/hoặc 200 mg zidovudine (1800 mg Invirase tổng cộng mỗi ngày, 2,25 mg zalcitabine tổng cộng mỗi ngày và/hoặc 600 mg zidovudine tổng cộng mỗi ngày).
Điều trị riêng rẽ :
Phác đồ khuyến cáo trong trị liệu riêng rẽ ở bệnh nhân người lớn là 600 mg Invirase ba lần mỗi ngày trong vòng 2 giờ sau bữa ăn (1800 mg Invirase tổng cộng mỗi ngày).
QUÁ LIỀU
Một bệnh nhân đã dùng quá liều Invirase khuyến cáo hàng ngày (1800 mg mỗi ngày) khi dùng một lúc 8000 mg. Người này đã đươc điều trị bằng cách gây nôn trong vòng 2 giờ sau khi uống và đã không thấy có di chứng gì. Trong một nghiên cứu thăm dò nhỏ, uống Invirase với liều 3600 mg không cho thấy có gia tăng độc tính qua 16 tuần điều trị.
TÁC DỤNG PHỤ: THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
- Dùng cho trẻ em và người lớn tuổi : Tính an toàn và hiệu lực của Invirase ở trẻ em nhiễm HIV (nhỏ hơn 13 tuổi) không đươc xác định. Kinh nghiệm còn hạn chế đối với bệnh nhân là người già trên 60 tuổi.
- Suy gan : Trên những bệnh nhân suy gan từ nhẹ đến trung bình, việc dùng saquinavir không liên hệ với các dấu hiệu xét nghiệm. Sự gia tăng nồng độ saquinavir trong huyết tương có thể xảy ra ở những bệnh nhân suy gan nặng ; tuy nhiên, những bệnh nhân này đã không đươc khảo sát và nên đươc điều trị cẩn thận.
- Suy thận : Trên những bệnh nhân suy thận từ nhẹ đến trung bình, việc dùng saquinavir không liên hệ với các dấu hiệu xét nghiệm. Không có số liệu dùng thuốc cho bệnh nhân suy thận với mức độ nặng hơn. Mặc dù saquinavir chỉ thanh thải một lương nhỏ qua thận, nên theo dõi lâm sàng khi dùng Invirase cho những bệnh nhân suy thận.
- Thông tin cho bệnh nhân : Invirase không thể điều trị khỏi nhiễm HIV và bệnh nhân có thể tiếp tục mắc thêm những chứng bệnh đi kèm với tiến triển của nhiễm HIV, bao gồm những nhiễm trùng cơ hội. Bệnh nhân cũng nên đươc khuyên rằng ho có thể bị các độc tính đi kèm theo những thuốc cùng phối hơp như zalcitabine và zidovudine.
- Lái xe và vận hành máy móc : Không biết đươc rằng Invirase có ảnh hưởng đến sự tập trung khi lái xe hay vận hành máy móc hay không.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Không biết đươc rằng Invirase có an toàn khi sử dụng cho phụ nữ có thai hay không. Khảo sát trên thú vật thử nghiệm không cho thấy tác động có hại trực tiếp hay gián tiếp với sự phát triển của phôi hay thai nhi, đến quá trình sinh đẻ và tiến trình phát triển trong và sau khi sinh. Do các nghiên cứu về tính sinh sản trên thú vật không thể luôn luôn suy ra đươc cho người, nên cẩn thận khi kê toa Invirase cho phụ nữ có thai.
Lúc nuôi con bú :
Không biết đươc rằng saquinavir có tiết ra qua sữa mẹ hay không. Do nhiều thuốc đươc tiết ra qua sữa mẹ, và do khả năng có thể xảy ra tác dụng ngoại ý của saquinavir cho trẻ bú sữa mẹ, nên ngưng cho con bú khi điều trị bằng Invirase.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Con đường chủ yếu thanh thải saquinavir là chuyển hóa ở gan. Các nghiên cứu in vitro đã nhận ra rằng sự chuyển hóa saquinavir qua trung gian P450 với isoenzyme đặc hiệu là CYP3A4 chịu trách nhiệm cho hơn 90% chuyển hóa ở gan.
Sử dụng đồng thời kétoconazole và saquinavir làm tăng nồng độ trong huyết tương của saquinavir mà không tăng thời gian bán hủy đào thải hay bất cứ thay đổi này trên tốc độ hấp thu. Dươc động hoc của kétoconazole không bị ảnh hưởng khi dùng đồng thời với saquinavir. Khi hai thuốc đươc sử dụng đồng thời với liều điều trị, không cần phải điều chỉnh liều cho sự dung nạp. Một gia tăng tương tự nồng độ saquinavir trong huyết tương có thể xảy ra với các hơp chất khác trong cùng nhóm này như fluconazole, itraconazole và miconazole với các thuốc ức chế isoenzyme CYP3A4.
Rifampicine đã cho thấy có làm giảm nồng độ trong saquinavir huyết tương đến 80%. Dùng rifampicine kết hơp với saquinavir có thể làm nồng độ saquinavir giảm xuống dưới nồng độ trị liệu. Do đó, bệnh nhân dùng đồng thời hai thuốc này nên kiểm soát cẩn thận sự giảm bớt đáp ứng với trị liệu. Khi xem xét chuyển hóa rộng rãi ở gan của saquinavir,sự dùng cùng lúc các hơp chất khác đươc biết là có khả năng gây cảm ứng men gan (như rifabutine, phénytoine, carbamazépine) có thể làm giảm nồng độ trong huyết thanh của saquinavir. Do đó, nên xem xét khả năng giảm hiệu lực Invirase khi dùng cùng lúc với các thuốc này.
Trong pha hấp thu saquinavir, nồng độ cao trước khi đi vào toàn thân của saquinavir có thể làm giảm hoạt tính của CYP3A4. Các hơp chất khác làm chất nền của CYP3A4 (như nifédipine và các thuốc ức chế kênh calci khác, clindamycin, terfenadine) có thể tương tranh với saquinavir trong sự chuyển hóa của chúng. Sự cạnh tranh này có thể làm gia tăng nồng độ trong huyết thanh của những thuốc này.
Bệnh nhân dùng saquinavir kết hơp với các thuốc như trên nên đươc kiểm soát các độc tính do các thuốc dùng đồng thời.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Invirase nói chung dung nạp tốt khi dùng riêng rẽ hay kết hơp với zalcitabine và/hoặc zidovudine. Thuốc không làm thay đổi hay cộng thêm độc tính của zalcitabine hay zidovudine khi phối hơp. Đa số các tai biến có hại liên quan đến Invirase thường nhẹ. Một cách tổng quát, các tác dụng ngoại ý thường đươc báo cáo nhất là tác dụng trên đường tiêu hóa như tiêu chảy, đau bụng và buồn nôn.
Nhiều bệnh nhân nhiễm HIV có những triệu chứng và dấu hiệu liên quan đến các bệnh này, các chứng gian phát hay điều trị đồng thời. Do đó khó phân biệt các biểu hiện này của bệnh cơ bản với các tác dụng ngoại ý do sử dụng Invirase.
Tác dụng phụ thường gặp trong trị liệu riêng rẽ :
Nổi ban, ngứa ngáy, đau cơ xương, đau cơ, nhức đầu, bệnh thần kinh ngoại biên, chóng mặt, tê cứng các chi, tiêu chảy, đau bụng, loét niêm mạc miệng, buồn nôn, đau bụng, viêm hong, suy nhươc.
Các tác dụng ngoại ý thường gặp bổ sung thêm khi dùng phối hơp thuốc :
Invirase và zalcitabine : dị cảm, mất ngủ, nôn mửa, viêm miệng, rối loạn cảm giác thèm ăn.
Invirase và zidovudine : bừng hỏa, thay đổi sắc tố, dị cảm, mất điều hòa, lú lẫn, khô miệng, sảng khoái, mất ngủ, dễ kích thích, buồn nôn, khó tiêu, táo bón, mất màu phân, viêm lưỡi, viêm thanh quản, rối loạn tiểu tiện, rối loạn cảm giác thèm ăn, khô mắt.
Invirase với zalcitabine và zidovudine : tăng đổ mồ hôi, dị cảm, lú lẫn, rối loạn thị giác, mất ngủ, giảm khả năng trí tuệ, dễ kích ứng, sảng khoái, khó tiêu, tổn thương niêm mạc, táo bón, ơ hơi, viêm lưỡi, viêm hong, khó thở,sốt, rối loạn cảm giác thèm ăn, thay đổi vị giác.
Bất thường xét nghiệm đáng chú ý nhất khi dùng riêng rẽ và trong phối hơp thuốc với zalcitabine là gia tăng đơn độc CPK, giảm glucose và tăng giá trị transaminase. Khi kết hơp với zidovudine, cũng quan sát đươc chứng giảm bạch cầu trung tính. Nói chung, các bất thường xét nghiệm và tần số các bất thưòng này giống nhau trên Invirase và các kết hơp thuốc khác nhau.
Tác dụng phụ trầm trong đươc xem như có thể liên quan đến kết hơp thuốc với zalcitabine là viêm tụy và trầm cảm. Tỷ lệ bệnh thần kinh ngoại vi, độc tính chính đi kèm với zalcitabine cũng tương tự như khi dùng riêng rẽ zalcitabine. Zalcitabine cũng thường đi kèm theo chứng gan to trầm trong và thoái hóa mỡ hay nhiễm acide lactique không thể lý giải. Không có trường hơp nào của chứng gan to trầm trong với thoái hóa mỡ hay nhiễm acide lactique đươc quan sát thấy khi dùng kết hơp Invirase và zalcitabine.
Các tác dụng có hại trầm trong nhưng hiếm gặp đươc đặc biệt quy cho việc điều trị Invirase quan sát đươc trên bệnh nhân dùng kết hơp Invirase và zidovudine là : bệnh bạch cầu nguyên tủy bào chẩn đoán đươc 2 tháng sau khi ngưng Invirase và chứng lú lẫn, mất điều hòa và yếu ớt.
Không có sự gia tăng mức độ các độc tính đã đươc xác định rõ ràng liên quan đến zidovudine hay zalcitabine như viêm cơ, các bất thường huyết hoc, viêm tụy, loét niêm mạc miệng hay bệnh thần kinh ngoại biên khi dùng Invirase phối hơp với zidovudine hay zalcitabine. Để nắm vững phác đồ điều chỉnh thuốc và tác dụng ngoại ý kèm theo đối với azlcitabine hay zidovudine, bác sĩ nên tham khảo thông tin đầy đủ về từng loại thuốc.
Các tác dụng ngoại ý trầm trong sau đã đươc báo cáo trong quá trình thử nghiệm mù lâm sàng với Invirase và đươc xem như là có khả năng liên quan đến sự sử dụng của hơp chất này : thiếu máu huyết tán, có ý định tự tử do quá liều témazépam và amitriptyline, hội chứng Stevens-Johnson, động kinh, phản ứng da trầm trong, đi kèm với các gia trị xét nghiệm chức năng gan gia tăng, tăng transaminase đơn độc , viêm tĩnh mạch huyết khối, nhức đầu, tổn thương gan với vàng da và tăng transaminase.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Chống chỉ định Invirase cho những bệnh nhân quá mẫn với saquinavir hay bất cứ thành phần nào của viên thuốc.

Leave a Reply