Intron A

HÃNG SẢN XUẤT: Schering-Plough
NHÓM THUỐC: Gan mật
THÀNH PHẦN: bột pha tiêm dưới da, tiêm bắp 3 MIU : hộp 1 lo bột – Bảng A.
THÀNH PHẦN
cho 1 lo
Interferon alfa-2 b tái tổ hơp 3 MIU
(Albumine người)
Ống dung môi : Nước cất pha tiêm
TÍNH CHẤT
Interferon alfa-2b tái tổ hơp.
Intron A đươc tạo thành qua quá trình đông khô, ổn định, tiệt trùng từ một chất có độ tinh khiết cao là Interferon alfa-2b, chất này đươc sản xuất bằng các kỹ nghệ tái tổ hơp DNA. Interferon alfa-2b tái tổ hơp là 1 protéine tan đươc trong nước, có trong lương phân tử xấp xỉ 19.300 dalton. Chất này đươc chiết tách từ một dòng E. coli, plasmide của loài này đươc lai giống với gen Interferon alfa-2 từ bạch cầu của người bằng các công nghệ gen. Bột Intron A đông khô có màu trắng đến vàng kem.
Hoạt tính của Intron A biểu diễn theo đơn vị quốc tế (IU), với 1 mg protéine Interferon alfa-2b tái tổ hơp tương đương với 2 x 108 IU. Đơn vị quốc tế này đươc xác định bằng cách so sánh hoạt tính của Interferon alfa-2b với hoạt tính của chất chuẩn quốc tế Interferon bạch cầu người do Tổ chức y tế thế giới quy định.
TÁC DUNG
Interferon alfa-2b tái tổ hơp có công hiệu ngăn chặn quá trình tăng sinh trong các nghiên cứu tiền lâm sàng trên cả tế bào nuôi cấy và khối u của người đươc ghép trên thú vật. Nó cũng có tác động điều hòa miễn dịch trong điều kiện in vitro. Interferon alfa-2b tái tổ hơp còn ức chế sự nhân đôi virus in vivo và in vitro.
Interferon tác động lên hoạt động tế bào bằng cách gắn vào các thụ thể màng tế bào đặc hiệu trên bề mặt tế bào. Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy một khi đã gắn kết vào màng tế bào, Interferon bắt đầu một chuỗi hoạt động rất phức tạp bên trong tế bào trong đó có sự cảm ứng của một số enzyme. Người ta cho rằng quá trình này hoặc ít nhất một phần của quá trình này, chịu trách nhiệm cho các đáp ứng khác nhau của tế bào đối với Interferon, bao gồm việc ức chế sự sao chép của virus trong các tế bào bị nhiễm virus, ngăn chận quá trình tăng sinh tế bào và có tác động điều hòa miễn dịch như gia tăng tính thực bào của đại thực bào và tăng độc tố tế bào đặc hiệu của limpho bào đối với tế bào đích. Một phần hoặc tất cả các hoạt tính này của Interferon đóng góp vào hiệu lực trị liệu của nó.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Dùng đường toàn thân : điều trị bệnh viêm gan siêu vi B mãn tính, viêm gan C/không A, không B mãn tính, viêm gan delta mãn tính, u nhú thanh quản, bệnh bạch cầu thể tế bào tóc, bệnh bạch cầu mãn dòng tủy, bệnh tăng tiểu cầu đi kèm với bệnh bạch cầu mãn dòng tủy, bệnh đa u tủy, u bạch huyết không Hodgkin, Sarcome Kaposi ở những bệnh nhân bị AIDS, carcinome tế bào thận, ung thư buồng trứng, khối u carcinoide di căn (khối u nội tiết tụy) và u sắc tố ác tính.
Dùng tiêm trong bàng quang : ung thư bề mặt bàng quang.
Dùng tiêm trong sang thương : bệnh condyloma sùi mồng gà, carcinome tế bào đáy, u bạch huyết tế bào T ở da và chứng dày sừng quang hóa.
CÁCH DÙNG: Intron A có thể đươc sử dụng bằng cách dùng dạng chai vô trùng hay ống tiêm nhựa.
Nên kiểm soát thuốc bằng mắt thường về độ đục và tính không màu trước khi tiêm.
Đối với phác đồ duy trì dùng đường tiêm dưới da, bệnh nhân có thể tự tiêm theo hướng dẫn của bác sĩ.
Bệnh nhân có số lương tiểu cầu nhỏ hơn 50.000/mm3 không nên tiêm bắp Intron A mà nên dùng theo đường tiêm dưới da.
Nếu tác dụng phụ xuất hiện trong khi trị liệu với thuốc tiêm Intron A trong bất cứ chỉ định nào, nên điều chỉnh liều dùng (giảm 50%) hay phải tạm thời ngưng điều trị cho đến khi các tác dụng phụ bớt đi. Nếu biểu hiện không dung nạp xuất hiện dai dẵng hoặc tái đi tái lại dù đã điều chỉnh liều, hay bệnh lại tiến triển thêm, nên ngưng trị liệu bằng thuốc tiêm Intron A.
Viêm gan siêu vi B mạn tính : liều khuyến cáo là 30-35 MIU/tuần tiêm dưới da hay tiêm bắp hoặc 5 MIU/ngày hay 10 MIU, 3 lần/tuần, trong vòng 16 tuần. Nói khác đi, liều tác dụng thấp nhất của thuốc tiêm Intron A là 3 MIU, 3 lần/tuần, tiêm dưới da hay tiêm bắp. Những bệnh nhân có HBV-DNA trong máu trước khi điều trị thấp (nghĩa là dưới 100 pcg) có đáp ứng tốt nhất với trị liệu Intron A và hầu hết các đáp ứng là giảm 50% HBV-DNA trong vòng 1 tháng. Bệnh nhân có nguy cơ cao (HBV-DNA > 100 mg) hay những bệnh nhân không đáp ứng với trị liệu trong vòng 1 tháng, có thể đươc điều trị với liều lương 5 MIU, 3 lần/tuần hoặc 5 MIU mỗi ngày. Liều lương có thể đươc điều chỉnh tùy theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân. Khi có đáp ứng, chế độ điều trị đươc chon lựa phải duy trì tối đa 4 tháng, trừ khi có sự không dung nạp trầm trong.
Viêm gan siêu vi C/NANB mạn tính : liều lương đề nghị là tiêm dưới da 3 MIU, 3 lần/tuần, trong 18 tháng. Hầu hết những bệnh nhân có đáp ứng cho thấy có sự cải thiện mức ALT trong 12 tuần. Một vài bệnh nhân không đáp ứng với liều 3 MIU có thể đáp ứng với liều cao hơn là 10 MIU, 3 lần/tuần. Những bệnh nhân tái phát sau khi trị liệu bằng Intron A có thể đươc tái điều trị với liều tương tự với lần đáp ứng trước.
Viêm gan siêu vi delta mạn tính : Intron A có thể tiêm dưới da với liều ban đầu 5 MIU/m2 da, 3 lần/tuần, ít nhất từ 3-4 tháng dù rằng điều trị kéo dài hơn có thể đươc chỉ định. Liều lương có thể đươc điều chỉnh theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân.
Bệnh u nhú thanh quản : liều lương khuyến cáo của Intron A là tiêm dưới da 3 MIU/m2 da, 3 lần/tuần (cách ngày), bắt đầu sau phẫu thuật (bằng tia laser) lấy đi mô bướu. Liều lương có thể điều chỉnh theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân. Có thể cần hơn 6 tuần trị liệu mới thấy đáp ứng.
Ung thư máu tế bào tóc : liều lương đề nghị của Intron A là tiêm dưới da hay tiêm bắp 2 MIU/m2 da, 3 lần/tuần (cách ngày). Liều lương có thể điều chỉnh lại tùy theo khả năng dung nạp thuốc của bệnh nhân. Những bệnh nhân không cắt lách cũng đáp ứng tương tự bệnh nhân cắt lách với những nhu cầu về truyền máu giảm dần giống nhau. Sự bình thường hóa một hay nhiều thông số huyết hoc thường bắt đầu trong vòng 2 tháng điều trị. Sự cải thiện tất cả ba thông số (lương bạch cầu hạt, lương tiểu cầu và mức hémoglobine) có thể cần đến 6 tháng hay hơn nữa. Trước khi bắt đầu điều trị, cần làm các xét nghiệm để đánh giá lương hémoglobine, tiểu cầu, bạch cầu hạt và các tế bào tóc ở máu ngoại biên và các tế bào tóc tủy xương. Các thông số này phải đươc kiểm tra định kỳ trong suốt quá trình điều trị để xác định có hay không có đáp ứng với điều trị. Nếu có đáp ứng, nên duy trì điều trị cho đến khi không cải thiện hơn nữa và các thông số trên đươc ổn định trong khoảng 3 tháng. Nên ngưng thuốc nếu không có đáp ứng trong vòng 6 tháng. Phác đồ điều trị này phải đươc duy trì trừ khi bệnh tiến triển nhanh hoặc có sự không dung nạp trầm trong. Nếu việc điều trị với Intron A bị gián đoạn, nên lưu ý rằng hơn 90% bệnh nhân có đáp ứng lại với việc tái điều trị bằng Intron A.
Ung thư máu dòng tủy mạn tính : liều lương đề nghị của Intron A là tiêm dưới da 4-5 MIU/m2 mỗi ngày. Để kiểm soát lương bạch cầu, có thể cần liều duy trì thay đổi từ 0,5-10 MIU/m2. Khi lương bạch cầu đã đươc kiểm soát, có thể tiêm 3 lần/tuần (cách ngày). Các nghiên cứu đã cho thấy bệnh nhân ở giai đoạn bệnh mãn tính có đáp ứng với Intron A tốt hơn. Điều trị nên bắt đầu sớm ngay sau chẩn đoán và duy trì cho đến khi có đáp ứng hoàn toàn về huyết hoc hay ít nhất 18 tháng.
Nói chung, các bệnh nhân đáp ứng thường có đáp ứng về huyết hoc trong vòng 2- 3 tháng điều trị. Những bệnh nhân này phải đươc tiếp tục điều trị cho đến khi có đáp ứng hoàn toàn về huyết hoc, như đã đươc định nghĩa là có lương bạch cầu vào khoảng 3-4 x 109/l.
Tất cả các bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn về huyết hoc phải đươc điều trị tiếp tục để đạt đươc đáp ứng di truyền tế bào hoc, mà đáp ứng này ở một số bệnh nhân chỉ có thể đạt đươc sau 2 năm điều trị. Với bệnh nhân lúc chẩn đoán có lương bạch cầu cao hơn 50 x 109/l, bác sĩ có thể chon lựa để bắt đầu điều trị với liều chuẩn hydroxyurea và sau đó thay thế bằng Intron A khi bạch cầu giảm dưới 50 x 109/l. Những bệnh nhân mới đươc chẩn đoán ung thư máu dòng tủy mãn tính với Ph dương tính cũng nên đươc điều trị phối hơp Intron A và hydroxyurea. Intron A đươc bắt đầu dùng với liều thay đổi từ 6-10 MIU mỗi ngày tiêm dưới da. Hydroxyurea đươc thêm vào với liều 1,0-1,5 g, 2 lần/ngày nếu lương bạch cầu ban đầu hơn 10 x 109/l và đươc tiếp tục cho đến khi lương bạch cầu xuống dưới 10 x 109/l. Sau đó, ngưng hydroxyurea và chỉnh liều Intron A lên hay xuống để duy trì bạch cầu đa nhân trung tính giữa 1- 5 x 10 9/l và tiểu cầu lớn hơn 75 x 10 9/l.
Bệnh tăng tiểu cầu đi kèm theo ung thư máu dòng tủy mãn tính : liều khuyến cáo giống như với liều điều trị bệnh ung thư máu dòng tủy mãn tính. Việc điều chỉnh liều áp dụng để kiểm soát lương bạch cầu cũng tỏ ra thích hơp để kiểm soát lương tiểu cầu. Dựa trên kinh nghiệm lâm sàng tích tụ cho đến nay, khoảng 1/4 (26%) bệnh nhân đươc chẩn đoán bạch cầu tủy mạn tính đồng thời có bệnh tăng tiểu cầu với lương tiểu cầu trên 500 x 10 9/l. Lương tiểu cầu đã đươc kiểm soát trên tất cả các bệnh nhân sau 2 tháng điều trị. Lương tiểu cầu đươc kiểm tra mỗi tháng không có lần nào dưới 80 x 10 9/l.
Bệnh đa u tủy :
Điều trị tấn công : thêm vào cùng với hóa trị liệu tấn công, Intron A có thể đươc tiêm dưới da với liều 3-5 MIU/m2, 3 lần/tuần (cách ngày) trong suốt giai đoạn tấn công.
Điều trị duy trì : ở những bệnh nhân trong giai đoạn ổn định sau đơt hóa trị liệu tấn công, có thể dùng duy nhất Intron A với liều 3-5 MIU/m2, 3 lần/tuần, tiêm dưới da.
Điều trị tái phát hay bệnh kháng trị : ở bệnh nhân có bệnh tái phát sau hóa trị liệu hay kháng với hóa trị, có thể chỉ cần tiêm Intron A đơn thuần với liều 3-5 MIU/m2, 3 lần/tuần.
U lympho bào không Hodgkin : bổ sung thêm trong hóa trị liệu, có thể tiêm Intron A dưới da với liều 5 MIU, 3 lần/tuần (cách ngày).
Ung thư Kaposi do AIDS : liều thích hơp vẫn chưa đươc xác định. Có hiệu quả khi tiêm dưới da hay tiêm bắp Intron A với liều 30 MIU/m2, 3-5 lần/tuần. Liều thấp hơn (10-12 MIU/m2/ngày) cũng đươc áp dụng mà không ghi nhận sự giảm rõ rệt hiệu quả điều trị.
Một cách khác, Intron A có thể dùng tiêm truyền tĩnh mạch với liều 50 MIU/m2/ngày trong 30 phút trong 5 ngày liên tiếp, sau đó ngưng ít nhất 9 ngày rồi mới bắt đầu đơt trị liệu 5 ngày kế tiếp. Khi bệnh ổn định hoặc điều trị có đáp ứng, nên tiếp tục trị liệu cho đến khi không có biểu hiện của bướu hoặc cho đến khi cần thiết ngưng thuốc do có dấu hiệu của nhiễm trùng cơ hội hay tác dụng phụ trầm trong.
Kết hơp với zidovudine (AZT) : trong các nghiên cứu lâm sàng, những bệnh nhân AIDS cùng với Sarcome Kaposi đươc cho dùng Intron A kết hơp với AZT. Đối với hầu hết bệnh nhân, phác đồ điều trị sau đươc dung nạp tốt : Intron A 5-10 MIU/m2 mỗi ngày ; AZT 100 mg mỗi 4 giờ. Triệu chứng độc tính để giới hạn liều là giảm bạch cầu trung tính. Intron A có thể đươc bắt đầu với liều 3-5 MIU/m2 mỗi ngày. Sau 2-4 tuần, tùy theo sự dung nạp của bệnh nhân, có thể tăng liều Intron A từ 5 đến 15 MIU/m2 mỗi ngày ; AZT có thể tăng đến 200 mg mỗi 4 giờ. Liều lương phải đươc điều chỉnh trên từng cá nhân, dựa vào sự đáp ứng trị liệu và sự dung nạp thuốc của mỗi người bệnh.
Ung thư tế bào thận : trong khi liều thích hơp vẫn chưa đươc xác định, liều khuyến cáo trong giai đoạn tấn công là 10 MIU/m2/ngày (tối đa đến 18 MIU/ngày), tiêm bắp hoặc tiêm dưới da. Liều lương có thể đươc điều chỉnh tùy theo tuổi tác và tình trạng của bệnh nhân. Liều này có thể đạt đến bằng cách tăng từ từ theo từng nấc 3 MIU/m2/ngày trong khoảng thời gian 3 ngày (3 MIU/m2/ngày cho 3 ngày, 9 MIU/m2/ngày cho 3 ngày, rồi 18 MIU/ngày). Liều tối đa đươc khuyến cáo là 36 MIU/ngày, tùy vào sự dung nạp của bệnh nhân. Thời gian điều trị tấn công kéo dài ít nhất là 3 tháng để có thể quyết định tiếp tục hay ngưng trị liệu. Nếu bệnh nhân có bằng chứng tiến triển bệnh, phải ngưng ngay điều trị tấn công. Đối với trị liệu duy trì, có thể dùng liều tương tự với kéo dài khoảng cách dùng thành 3 lần mỗi tuần trong ít nhất 6 tháng.
Ung thư buồng trứng : liều khuyến cáo cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư buồng trứng dai dẵng, di căn đã giảm bớt là 50 MIU tiêm vào phúc mạc nếu chỉ dùng duy nhất một loại thuốc. Pha thuốc tiêm Intron A trong 250 ml dung dịch muối, thêm vào 1750 ml dung dịch thẩm phân và tiêm phúc mạc qua catheter. Nên thực hiện tiêm truyền nhỏ giot trong khoảng một giờ. Có thể lặp lại cách thức này mỗi tuần, trong ít nhất 16 tuần trước khi bệnh nhân đươc đánh giá lại tình trạng bệnh.
Bướu di căn dạng carcinome (bướu tuyến tụy nội tiết) : hoạt tính trị liệu của Intron A đã đươc thấy rõ ràng ở bệnh nhân bướu di căn dạng carcinome và hội chứng sau khi dùng thuốc tiêm dưới da 3-4 MIU/m2 mỗi ngày hay cách ngày, và tiêm dưới da 3 lần một tuần bắt đầu với liều 2 MIU/m2 và tăng dần đến 3, 5, 7 và 10 MIU/m2 với các khoảng cách 2 tuần tùy theo độc tính. Trong khi sự thoái hóa bướu nguyên phát không xuất hiện, 20% bệnh nhân giảm 50% ở nước tiểu trong vòng 24 giờ [mức 5-hydroxyindole acetic acid (5-HIAA)]. Những bệnh nhân dùng Intron A trong 6 tháng (2 MIU/m2/ngày, tiêm dưới da trong vòng 3 ngày đầu sau đó tăng đến 5 MIU/m2, tiêm dưới da 3 lần/tuần) cho đáp ứng khách quan khoảng 50% trong điều trị kéo dài. Những bệnh nhân bướu ác tính dạng carcinome có thể xuất hiện bệnh tự miễn trong thời gian trị liệu Intron A, đặc biệt khi có tự kháng thể. Vì vậy, phải kiểm soát chặt chẽ bệnh nhân về các triệu chứng thực thể và triệu chứng cơ năng của bệnh tự miễn trong suốt quá trình điều trị.
Bệnh u sắc tố ác tính : đươc dùng như một điều trị hỗ trơ cho phẫu thuật, Intron A đươc tiêm tĩnh mạch với liều 20 MIU/m2, 5 lần mỗi tuần trong vòng 4 tuần, sau đó là 10 MIU/m2, tiêm dưới da 3 lần mỗi tuần trong vòng 48 tuần. Khi phối hơp với hóa trị liệu cho bệnh nhân u sắc tố di căn, Intron A đươc dùng tiêm tĩnh mạch với liều 15 MIU/m2, 5 lần mỗi tuần trong 3 tuần, sau đó tiêm dưới da 10 MIU/m2, 3 lần mỗi tuần cho đến khi có dấu hiệu cải thiện hay khi bác sĩ cảm thấy không còn cần thiết ; bệnh nhân đươc điều trị lâu hơn 2 năm.
Ung thư bề mặt bàng quang : đối với ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp, liều khuyến cáo là 30-50 MIU mỗi tuần tiêm nhỏ giot vào bàng quang trong khoảng 8-12 tuần ; đối với ung thư tại chỗ, liều khuyến cáo là 60-100 MIU, tiêm nhỏ giot mỗi tuần trong vòng 12 tuần.
Cách thức tiêm truyền nhỏ giot Intron A đã pha vào trong bàng quang : bệnh nhân nên nhịn uống trong 8 giờ trước khi tiêm truyền để giúp duy trì nồng độ thuốc tối ưu và tránh sự bài tiết quá sớm. Bàng quang nên trống trước khi tiêm truyền. Dung dịch đươc tiêm truyền từ bơm tiêm vào bàng quang qua 1 catheter tiệt trùng. Bệnh nhân phải giữ dung dịch trong bàng quang trong 2 giờ. Trong quá trình điều trị, bệnh nhân phải thay đổi tư thế mỗi 15 phút để bảo đảm toàn bộ bề mặt bàng quang đươc tiếp xúc. Sau 2 giờ, nên khuyên bệnh nhân đi tiểu để bài tiết hoàn toàn.
Condylomata Acuminata (condilom sùi, bệnh mồng gà) : các sang thương đươc tiêm thuốc trước tiên phải đươc lau sạch sẽ bằng gạc tẩm cồn vô trùng. Tiêm vào trung tâm sang thương bằng một kim nhỏ (số 30). Tiêm 0,1 ml dung dịch pha sẵn chứa 1 MIU Intron A vào sang thương 3 lần một tuần và cách ngày trong vòng 3 tuần. Có thể cùng lúc điều trị 5 sang thương. Liều tổng cộng tối đa cho việc tiêm thuốc mỗi tuần không đươc vươt quá 15 MIU. Sang thương rộng có thể đươc điều trị bằng cách tiêm nhiều mũi (tối đa 5 MIU Intron A tổng cộng trong một ngày) hay bằng cách tiêm liên tục lên những vùng khác nhau của sang thương.
Tái điều trị : sự cải thiện thường xuất hiện 4-8 tuần sau khi bắt đầu đơt điều trị đầu tiên. Nếu kết quả lần trị liệu này chưa thỏa đáng, nên trị liệu đơt thứ nhì với cùng phác đồ tương tự nếu các triệu chứng chức năng và thực thể hay các thay đổi về các thông số xét nghiệm không ngăn cản việc tái điều trị.
Điều trị các sang thương phụ : ngay sau khi kết thúc 3 tuần điều trị đầu tiên, có thể bắt đầu đơt điều trị thứ hai với phác đồ điều trị tương tự để điều trị tối đa 5 sang thương phụ ở bệnh nhân có từ 6-10 condylom. Bệnh nhân có hơn 10 condylom có thể đươc điều trị liên tiếp phụ thuộc vào số lương condylom. Trong các nghiên cứu lâm sàng, những bệnh nhân có condylom cũng đươc điều trị với Intron A tiêm vào trong sang thương với liều 1,5 MIU/sang thương sau đó bôi tại chỗ podophylline 25%. Việc điều trị này đươc thực hiện mỗi tuần một lần, trong vòng 3 tuần.
Ung thư tế bào nền : sang thương trước hết phải đươc làm sạch bằng gạc tẩm cồn vô trùng. Tiêm vào phần nền và phần chất của sang thương bằng một kim nhỏ (số 30) và 1 ống tiêm 1 ml. Với những sang thương có diện tích ban đầu dưới 2 cm2, tiêm 0,15 ml dung dịch chứa 1,5 MIU Intron A vào sang thương 3 lần một tuần cách ngày, trong vòng 3 tuần. Liều tổng cộng nên đạt đến 13,5 MIU. Sang thương tế bào nền có diện tích rộng và nốt loét (sang thương rộng 2-10 cm2) nên đươc điều trị 3 lần một tuần trong vòng 3 tuần với 0,5 MIU/cm2 diện tích ban đầu của sang thương (liều tối thiểu là 1,5 MIU). Mỗi sang thương nên đươc điều trị một lần. Sự cải thiện tình trạng lâm sàng (hình dáng kích thước, ban đỏ…) của sang thương đã đươc điều trị là chỉ định đáng tin cậy cho việc điều trị bằng sinh thiết. Do đó tình trạng lâm sàng phải đươc kiểm tra định kỳ sau khi kết thúc điều trị. Sự cải thiện triệu chứng thực thể của bệnh thường xuất hiện khoảng 8 tuần sau khi bắt đầu điều trị. Nếu không thấy cải thiện lâm sàng sau 2-3 tháng, nên dùng phẫu thuật cắt bỏ sang thương.
U bạch huyết tế bào T ở da (u sùi dạng nấm) : ở bệnh nhân có mảng u sùi dạng nấm, Intron A gây thuyên giảm lâm sàng khi tiêm vào trong vết thương với liều lương 1-2 MIU/vị trí tiêm 3 lần mỗi tuần trong vòng 4 tuần liên tiếp. Trước hết, sang thương phải đươc lau sạch bằng gạc tẩm cồn tiệt trùng ; kim đươc tiêm theo một góc gần như song song với da. Tiêm vào biểu mô bề mặt dưới mảng sang thương với một kim nhỏ (số 30) và ống tiêm 1 ml. Cần chú ý không đươc đưa quá sâu dưới sang thương và cần tránh tiêm dưới da. Nên lặp lại liệu pháp này 3 lần một tuần, trong vòng 4 tuần với tổng số 12 mũi tiêm vào mỗi sang thương. Trong những thử nghiệm lâm sàng, cải thiện ngay tại vị trí sang thương đươc ghi nhận duy trì vài tuần sau khi kết thúc điều trị bằng cách tiêm thẳng vào trong sang thương với liều tổng cộng là 2 MIU/lần thực hiện.
Dày sừng quang hóa : sang thương có thể đươc điều trị với 500 000 (5 x 105 IU) Intron A trong 0,1 ml dung dịch, tiêm vào sang thương với 1 kim nhỏ (số 25-30). Kim nên đâm vào phần nền của sang thương với một góc gần như song song với mặt phẳng da. Cần phải chú ý không đưa vào dưới sang thương quá sâu ; cần nên tránh tiêm dưới da vì khu vực này ở dưới nền của sang thương. Mũi tiêm bề mặt có thể đưa đến chỗ rò rỉ với sự thâm nhiễm của duy nhất lớp sừng hoá. Nên lặp lại liệu pháp này 3 lần mỗi tuần trong vòng 3 tuần với tổng số 9 mũi tiêm vào mỗi chỗ dày sừng quang hóa/lần thực hiện với liều tổng cộng là 1,5 MIU/lần thực hiện. Nên chờ khoảng bốn tuần từ lúc kết thúc đơt trị liệu trước đó cho đến khi có kết quả lâm sàng rõ rệt.
Sang thương có hình thái hoc hay triệu chứng hoc lâm sàng bất thường không nên điều trị bằng Intron A.
Pha chế bột đông khô Intron A để tiêm hay tiêm thẳng vào sang thương : lo bột chứa liều duy nhất phải đươc pha với 1 ml nước cất pha tiêm. Cũng có thể dùng nước định khuẩn pha tiêm chứa 0,9 % rươu benzylique. Lo chứa nhiều liều phải đươc pha với nước định khuẩn pha tiêm chứa 0,9 % rươu benzylique (5 ml cho lo 25 MIU). Để tiêm vào sang thương, pha một lo 10 MIU Intron A với 1 ml dung môi sẽ cho một dung dịch đẳng trương với nồng độ mong muốn là 1 MIU/0,1 ml. Pha thuốc với những lo có kích cỡ khác nhau để đạt đươc liều lương khuyến cáo cho một dung dịch nhươc hay đẳng trương. Dùng bơm và kim tiêm tiệt trùng, tiêm một lương thích hơp dung môi vào lo Intron A.
Lắc nhẹ để hòa tan bột hoàn toàn. Sau đó, liều lương thích hơp sẽ đươc rút ra bằng bơm tiêm tiệt trùng và tiêm dưới da, bắp thịt hay vào sang thương như đươc chỉ định.
Pha chế dung dịch Intron A để tiêm truyền tĩnh mạch : (xem Liều lương và cách dùng). Không đươc tiêm truyền đồng thời thuốc khác cùng với Intron A.
Bệnh Sarcoma Kaposi : phác đồ liều lương thay đổi : nếu có thể, nên pha dịch tiêm truyền ngay trước khi dùng. Bột đông khô Intron A nên đươc pha bằng cách thêm 1 ml nước cất pha tiêm vào lo. Sau đó rút ra lương Interferon đươc tính toán trước cho 1 liều thích hơp và cho vào 50 ml dung dịch muối vô trùng. Trước khi tiêm mỗi liều Intron A, bệnh nhân cần có sẵn một kim bướm số 21 dùng tiêm tĩnh mạch (hay cỡ kim tiêm tĩnh mạch khác đươc cung cấp). Cần bắt đầu tiêm truyền dung dịch muối đẳng trương (tốc độ 200 ml/giờ) trước khi cho thuốc vào. Nên ngưng tiêm truyền dung dịch muối đẳng trương ngay trước khi bắt đầu cho Intron A vào. Dung dịch Intron A trong 50 ml dung dịch muối tiệt trùng đã pha sẵn nên đươc tiêm truyền trong khoảng thời gian là 30 phút. Sau khi truyền thuốc xong phải tiếp tục truyền dung dịch muối bình thường trong vòng 10 phút với tốc độ là 200 ml/giờ như ban đầu.
Bệnh u sắc tố ác tính : Bột đông khô Intron A nên đươc pha bằng cách thêm 1 ml nuớc cất pha tiêm vào lo. Lương Interferon đươc tính trước cho một liều thích hơp sau đó đươc rút ra và thêm vào trong 100 ml dung dịch muối đẳng trương tiệt trùng và tiêm truyền trong khoảng 20 phút. Không đươc truyền kết hơp Intron A với một thuốc khác.
Pha Intron A để tiêm vào bàng quang : cho liều khuyến cáo là 100 MIU Intron A, một số thích hơp các lo 5, 10, 25, 30 hay 50 MIU để làm đủ 100 MIU đươc pha với nước cất pha tiêm. Không pha Intron A với nước định khuẩn pha tiêm để tiêm truyền vào bàng quang. Thêm vào mỗi lo 1 ml nước cất pha tiêm. Lắc nhẹ để hòa tan bột hoàn toàn để đươc một dung dịch trong suốt. Gộp các dung dịch pha lại bằng cách hút vào một ống bơm tiêm 30 ml để đươc liều tổng cộng 100 MIU Intron A. Thêm một lương vừa đủ nước cất pha tiêm vào bơm tiêm để có một thể tích là 30 ml dung dịch. Để tiêm nhỏ giot vào bàng quang, bơm tiêm phải đươc nối vào một catheter tiệt trùng. Cần quan sát dung dịch bằng mắt thường để kiểm tra các tiểu phân lơ lửng và tính không màu trước khi đưa vào cơ thể. Dung dịch pha phải trong suốt và không màu đến vàng nhạt. Mặc dù dung dịch pha Intron A với nước cất pha tiêm có thể ổn định trong 24 giờ ở nhiệt độ 2-30°C, nên dùng dung dịch tiêm vào bàng quang trong vòng 4 giờ sau khi pha.
LƯU Ý KHI SỬ DUNG
Không tiêm truyền đồng thời các thuốc khác với Intron A.
Tương hơp với các dung dịch tiêm tĩnh mạch khác : trong dung dịch muối đẳng trương thông thường, nồng độ Intron A từ 50.000-1.000.000 IU/ml có tính ổn định và tương hơp với các dung dịch đươc kể phía dưới, khi giữ trong tủ lạnh trên 24 giờ hoặc để ở nhiệt độ phòng trong chai thủy tinh : dung dịch tiêm Ringer, dung dịch tiêm Lactate Ringer, dung dịch tiêm acide amine, dung dịch tiêm Natri bicarbonate 5%.
Hỗn hơp này đươc duy trì ổn định trong tiêm truyền kéo dài 6 giờ qua bộ truyền dịch.
Tính tương hơp của Intron A ở nồng độ tối thiểu 105 IU/ml trong dung dịch muối đẳng trương thông thường đã đươc đánh giá khi dùng qua nhiều bộ truyền dịch khác nhau.
Kết quả tóm lươc như sau : tính tương hơp với các bộ tiêm đường tĩnh mạch.
Có thể tương hơp : 2C001 (Travenol), VI 400 (McGaw), Venoset 78 (Abbott), Ultipor Blood, bộ tiêm thuốc và loc dịch truyền (Pall), Intrafix Air (B. Braun), bộ tiêm STK loại L76 (Aesca), Perfu Pal (Dubermarid Vitrum), Vacoset V34 (Baxter), Vacoset V2400 (Pharmaseal), Hiplex-Venosteril, Venoset (Abbott), Vacoset V-736 (McGaw), Vacoset V-717U (McGaw).
Không tương hơp : Versaset V13 (Rivero), Addit IV V1444 (McGaw), Continue Flow (Travenol).
Tính ổn định : sau khi pha với 1 ml nước pha tiêm kìm khuẩn chứa 0,9% cồn benzyl, dung dịch sẽ đươc ổn định tối thiểu 1 tháng khi đươc bảo quản ở 2-8°C hoặc trong 2 tuần khi bảo quản ở nhiệt độ phòng (15-30°C).
Dung dịch sau khi pha trong suốt và không màu hoặc có màu vàng nhạt.
Khi pha với nước cất pha tiêm, Intron A có thể đươc bảo quản đông lạnh (dưới – 10°C) trong ống bơm tiêm polypropylène trong 28 ngày. Dung dịch pha ổn định trong suốt thời gian này khi đươc giải đông và đươc đông lạnh trở lại tối đa 2 lần.
BẢO QUẢN
Bảo quản trong khoảng nhiệt độ 2-8 °C.
TÁC DỤNG PHỤ: THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Các phản ứng quá mẫn cấp tính trầm trong (như nổi mề đay, phù mạch, co thắt phế quản, phản vệ) với Intron A rất hiếm gặp trong quá trình trị liệu với Intron A. Nếu có biểu hiện phản ứng như thế thì phải ngưng thuốc và áp dụng các biện pháp thích hơp ngay lập tức. Chứng nổi ban thoáng qua không cần thiết phải ngưng trị liệu.
Nên cẩn thận khi dùng Intron A cho bệnh nhân mắc những chứng bệnh làm suy nhươc cơ thể như có tiền sử bệnh phổi (như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) hay tiểu đường có khuynh hướng nhiễm acide-cétone. Cũng nên cẩn thận khi dùng cho bệnh nhân có rối loạn đông máu (như chứng viêm tĩnh mạch huyết khối, nghẽn mạch phổi) hay suy tủy trầm trong.
Sử dụng thuốc tiêm Intron A phối hơp với các tác nhân hóa trị liệu khác có thể làm gia tăng nguy cơ ngộ độc (về mức độ và thời gian), có thể gây tử vong hay đe doa tính mạng do tác động của thuốc dùng đồng thời. Các tác dụng ngoại ý thường thấy nhất có khả năng gây tử vong hay đe doa đến tính mạng bao gồm viêm niêm mạc, tiêu chảy, giảm bạch cầu trung tính, suy thận và rối loạn chất điện giải. Do nguy cơ gia tăng độc tính, cần điều chỉnh liều cẩn thận đối với Intron A và cả các tác nhân hóa trị liệu dùng đồng thời.
Vì sốt có thể gặp trong hội chứng giả cúm khi điều trị bằng Interferon, ta nên loại trừ các nguyên nhân gây sốt dai dẳng khác.
Không nên dùng Intron A cho bệnh nhân viêm gan mạn có suy gan mất bù, cho bệnh nhân viêm gan tự miễn hay có tiền sử bệnh tự miễn hay những người đã đươc ức chế miễn dịch để ghép các cơ quan bởi vì Intron A có thể làm bệnh gan trầm trong hơn trên những bệnh nhân này.
Nhiễm độc gan dẫn đến tử vong rất hiếm gặp. Do đó, nếu bệnh nhân có các bất thường chức năng gan trong quá trình điều trị với Intron A nên đươc theo dõi chặt chẽ và ngưng thuốc nếu các triệu chứng tiến triển nặng.
Không nên dùng Intron A cho bệnh nhân suy gan mất bù. Bệnh nhân viêm gan siêu vi mạn với bằng chứng suy giảm chức năng tổng hơp của gan (như giảm albumine hay kéo dài thời gian prothrombine), nếu đươc điều trị bằng Intron A có thể tăng nguy cơ mất bù lâm sàng nếu có sự dao động của aminotransférase trong quá trình điều trị với Intron A (xem phần Xét nghiệm). Nên cân nhắc giữa nguy cơ và lơi ích trị liệu khi chỉ định Intron A cho những bệnh nhân này.
Nên duy trì bổ sung đầy đủ nước cho bệnh nhân điều trị với Intron A vì chứng hạ huyết áp do tình trạng mất nước đã đươc quan sát thấy ở một số bệnh nhân. Việc bù nước có thể rất thiết yếu.
Bệnh nhân có tiền sử suy tim sung huyết, nhồi máu cơ tim và/hoặc có tiền sử hay đang bị loạn nhịp tim, nếu cần phải điều trị với Intron A, nên đươc theo dõi chặt chẽ. Bệnh nhân có các bất thường trước đó về tim và/hoặc đang trong giai đoạn ung thư tiến triển, nên làm điện tâm đồ trước khi dùng thuốc cũng như trong quá trình điều trị. Chứng loạn nhịp tim (chủ yếu là loạn nhịp trên thất) thường đáp ứng với các điều trị thông thường nhưng có thể đòi hỏi phải ngưng dùng Intron A.
Các bệnh thâm nhiễm phổi, viêm phổi bao gồm cả các bệnh có thể gây tử vong rất hiếm gặp trên bệnh nhân đươc điều trị với Interferon alfa, trong đó bao gồm cả bệnh nhân điều trị bằng Intron A. Bệnh căn hoc vẫn chưa đươc xác định. Nếu bệnh nhân bị sốt, ho, khó thở hay các triệu chứng hô hấp khác, nên kiểm tra bằng X quang. Nếu X quang phổi cho thấy có thâm nhiễm hay nếu có bằng chứng suy chức năng phổi, bệnh nhân nên đươc theo dõi cẩn thận và ngưng thuốc nếu có thể. Trong khi ảnh hưởng này đươc báo cáo xảy ra thường xuyên hơn với bệnh nhân viêm gan siêu vi mạn C/NANB đươc điều trị với Interferon alfa, nó cũng đươc báo cáo xảy ra trên những bệnh nhân mắc các bệnh ung thư đươc điều trị với Interferon. Hơn nữa, các triệu chứng này đã đươc báo cáo xuất hiện thường hơn khi Interferon alfa đươc dùng đồng thời với shosaikoto, một thảo dươc có nguồn gốc từ Trung quốc.
Bệnh nhân đã mắc bệnh tâm thần trước đó, đặc biệt là chứng trầm cảm hay tiền sử bệnh tâm thần nặng không nên điều trị bằng Intron A.
Nếu có các triệu chứng trầm trong trên hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là chứng trầm cảm, nên ngưng điều trị Intron A. Các tác động trên hệ thần kinh trung ương đươc biểu hiện với chứng trầm cảm, lú lẫn và những thay đổi tình trạng tâm thần đã đươc quan sát thấy trên một vài bệnh nhân dùng Intron A và ý định tự tử cũng có thể xảy ra tuy nhiên rất hiếm. Các tác dụng ngoại ý này đã xảy ra trên bệnh nhân dùng Intron A với liều khuyến cáo cũng như với liều cao hơn. Vài bệnh nhân có thể hôn mê, nhất là những người già và điều trị liều cao. Những tác dụng này nói chung thường là có hồi phục, ở một vài bệnh nhân cần phải có đến 3 tuần để hồi phục hoàn toàn. Rất hiếm khi xuất hiện cơn động kinh khi sử dụng liều cao Intron A.
Chứng xuất huyết võng mạc, tắc nghẽn động mạch hay tĩnh mạch với những điểm như nốt bông rất hiếm gặp trên bệnh nhân đươc điều trị với Interferon alfa, trong đó có thuốc tiêm Intron A (Interferon alfa-2b tái tổ hơp). Chưa giải thích đươc nguyên nhân bệnh căn của những hiện tương này. Các tác dụng này có vẻ như xuất hiện sau vài tháng dùng thuốc, nhưng cũng đươc báo cáo xảy ra trong những khoảng thời gian điều trị ngắn hơn. Chứng tiểu đường hay cao huyết áp cũng xuất hiện trên một vài bệnh nhân. Bệnh nhân có những thay đổi thị lực và thị trường hay những triệu chứng ở mắt trong quá trình điều trị với Intron A nên đươc khám mắt.
Các dấu hiệu trên võng mạc gây bởi Intron A nên đươc phân biệt với các tai biến trên mắt trong các bệnh võng mạc do tiểu đường hay do cao huyết áp, do đó nên khám mắt cho bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường hay cao huyết áp trước khi điều trị với Intron A.
Khi bệnh nhân có rối loạn chức năng giáp, chỉ có thể bắt đầu hay tiếp tục điều trị với Intron A khi có thể duy trì nồng độ TSH ở mức độ bình thường bằng cách dùng thuốc. Việc ngưng điều trị với Intron A không làm hồi phục lại rối loạn chức năng giáp xảy ra trong quá trình trị liệu.
Do có các báo cáo về sự gia tăng bệnh vẩy nến đã có sẵn trước đó, chỉ nên dùng Intron A cho bệnh nhân bị vẩy nến khi lơi ích trị liệu lớn hơn nguy cơ có thể gây ra.
Trên bệnh nhân bị sarcome Kaposi do AIDS, không nên dùng Intron A khi có sự hiện diện của các bệnh nội tạng đang tiến triển nhanh chóng. Bệnh nhân dùng thuốc đồng thời với zidovudine gây ra giảm bạch cầu trung tính với tỉ lệ cao hơn so với khi chỉ dùng zidovudine đơn thuần. Tác dụng của Intron A khi kết hơp với những thuốc khác trong điều trị bệnh liên quan tới AIDS chưa rõ ràng.
Các xét nghiệm tác nhân trung hòa Interferon đươc thực hiện trên những mẫu huyết thanh của bệnh nhân đươc tiêm Intron A trong một vài thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát. Tỉ lệ trên lâm sàng của hoạt động trung hòa phát triển trên bệnh nhân ung thư đươc điều trị toàn thân là vào khoảng 3%. Bệnh nhân viêm gan siêu vi NANB/C mạn tính đươc điều trị với liều 3 MIU ba lần mỗi tuần trong 6 tháng có tỉ lệ là 15% mà không có tác động nào lên kết quả lâm sàng. Tác động trung hòa của Interferon trong huyết thanh đươc tìm thấy trong khoảng 1% bệnh nhân tiêm Intron A vào trong sang thương để điều trị bệnh mồng gà. Nồng độ của yếu tố trung hòa trong hầu hết các trường hơp đều thấp và biểu hiện lâm sàng của hoạt động trung hòa này cũng không rõ. Sự phát triển của những kháng thể trung hòa chưa đươc chứng minh trên bệnh nhân đươc tiêm Intron A vào trong sang thương trong điều trị carcinome tế bào nền hay trên bệnh nhân đươc tiêm Intron A trong bàng quang trong điều trị ung thư bàng quang.
Xét nghiệm : các xét nghiệm huyết hoc tiêu chuẩn và sinh hóa của máu (công thức máu, số lương tiểu cầu, chất điện giải, các men gan, bao gồm ALT huyết thanh, bilirubine và albumine huyết thanh, protéine huyết thanh và créatinine huyết thanh) nên đươc thực hiện trên tất cả các bệnh nhân trước khi điều trị và có định kỳ trong quá trình điều trị với thuốc tiêm Intron A. Nồng độ TSH phải đươc giữ trong các giới hạn bình thường trước khi bắt đầu điều trị với Intron A. Bệnh nhân có những triệu chứng cho thấy có rối loạn chức năng giáp trong quá trình điều trị với Intron A nên đươc thăm khám chức năng giáp. Trên bệnh nhân đươc điều trị viêm gan, phác đồ xét nghiệm khuyến cáo là vào tuần thứ 1, 2, 4, 8, 12, 16 và mỗi tháng sau đó, trong suốt quá trình điều trị. Nếu ALT tăng (gấp hai bình thường hay nhiều hơn) trong quá trình điều trị với Intron A, có thể tiếp tục dùng thuốc, trừ phi quan sát đươc những triệu chứng và dấu hiệu của suy gan. Khi ALT tăng, nên thực hiện các xét nghiệm chức năng gan như thời gian prothombine, ALT, phosphatase kiềm, nồng độ albumine và bilirubine cách khoảng mỗi 2 tuần.
Ảnh hưởng lên khả năng sinh sản : Interferon có thể làm giảm khả năng sinh sản. Trong những nghiên cứu về sử dụng Interferon trên động vật linh trưởng, người ta thấy có những bất thường trong chu kỳ kinh nguyệt. Sự suy giảm nồng độ estradiol và progestérone đã đươc báo cáo xuất hiện ở phụ nữ đươc điều trị với Interferon bạch cầu của người. Do đó, phụ nữ trong tuổi sinh đẻ không nên dùng Intron A trừ khi áp dụng biện pháp tránh thai hữu hiệu trong thời gian điều trị.
Thận trong khi dùng Intron A cho nam giới trong tuổi sinh đẻ.
Dùng thuốc cho trẻ em : các liều lên đến 10 MIU/m2 đã đươc dùng một cách an toàn khi dùng cho trẻ em bị viêm gan siêu vi B mạn tính hoạt động. Tuy nhiên, hiệu lực của liệu pháp chưa đươc chứng minh. Nói chung, kinh nghiệm điều trị cho bệnh nhân dưới 18 tuổi vẫn còn giới hạn và trong những trường hơp này, nên cân nhắc giữa lơi ích trị liệu với nguy cơ có thể xảy ra.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Intron A đã cho thấy có tác động gây sẩy thai trên Macca mulatta (khỉ rhesus) với liều gấp 90 và 180 lần so với liều tiêm bắp hay tiêm dưới da là 2 MIU/m2. Mặc dù sự sẩy thai đươc quan sát trên tất cả các nhóm liều (7,5, 15 hay 30 MIU/kg), tác dụng này chỉ có ý nghĩa thống kê đối với các kiểm soát ở nhóm liều trung bình và liều cao (tương ứng với gấp 90 và 180 lần liều khuyến cáo tiêm bắp hay liều tiêm dưới da 2 MIU/m2). Không có nghiên cứu đầy đủ và có kiểm chứng chặt chẽ trên phụ nữ có thai. Chỉ nên dùng Intron A trong lúc có thai nếu lơi ích trị liệu cao hơn nguy cơ có thể gây ra cho bào thai. Không nên tiêm Intron A vào bàng quang cho phụ nữ có thai.
Việc bài tiết các thành phần của thuốc qua sữa mẹ chưa đươc xác định. Do Intron A có thể gây tác dụng ngoại ý cho trẻ bú sữa mẹ, quyết định ngưng cho bú hay ngưng điều trị phụ thuộc vào tầm quan trong của thuốc đối với người mẹ.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Điều trị kết hơp : acétaminophène (paracétamol) đã đươc dùng thành công để làm giảm triệu chứng sốt và nhức đầu có thể xảy ra khi điều trị bằng thuốc tiêm Intron A. Liều khuyến cáo acétaminophène là 500 mg-1 g dùng 30 phút trước khi tiêm Intron A. Liều acétaminophène tối đa là 1 g, 4 lần/ngày.
Nên dùng thuốc mê, thuốc ngủ hay thuốc an thần cẩn thận khi cho đồng thời với thuốc tiêm Intron A. Chưa đánh giá đươc về tương tác thuốc giữa thuốc tiêm Intron A với những thuốc khác. Nên cẩn thận khi dùng Intron A kết hơp với các tác nhân có khả năng làm suy tủy. Tác dụng ngoại ý đồng vận trên số lương bạch cầu có thể xuất hiện khi dùng đồng thời Intron A với zidovudine. Bệnh nhân dùng cả hai tác nhân này đồng thời có chứng giảm bạch cầu trung tính xảy ra phụ thuộc liều lương và với tần suất cao hơn vươt quá mức chờ đơi so với khi dùng duy nhất một thuốc zidovudine.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Dùng toàn thân :
Các phản ứng phụ đươc thấy nhiều nhất là sốt, mệt mỏi, nhức đầu và đau cơ. Các dấu hiệu sốt và mệt mỏi có liên quan đến liều dùng và đươc hồi phục sau 72 giờ tạm ngưng thuốc hoặc ngưng trị liệu.
Các phản ứng phụ thường gặp là chuột rút, chán ăn và buồn nôn.
Các phản ứng phụ ít gặp hơn là ói mửa, tiêu chảy, đau khớp, suy nhươc, buồn ngủ, chóng mặt, rụng lông tóc, khô miệng, các triệu chứng giống như cúm (không đặc hiệu), đau lưng, trầm cảm, khó ở, đau nhức, vã mồ hôi , thay đổi vị giác, kích thích, mất ngủ, lẫn lộn, giảm tập trung và hạ huyết áp.
Các phản ứng phụ hiếm gặp là đau bụng, nổi ban, lo lắng, tai biến tại nơi tiêm, dị cảm, herpès simplex, ngứa, đau mắt, lo lắng, chảy máu cam, ho, viêm hong, thâm nhiễm phổi, viêm phổi, giảm sáng suốt, sụt cân, phù mặt, khó thở, khó tiêu, tim đập nhanh, cao huyết áp, tăng cảm giác ngon miệng, giảm tình dục, giảm cảm giác, thay đổi vị giác, phân lỏng, chảy máu lơi, bệnh thần kinh và bệnh đa dây thần kinh. Chứng cường hay nhươc giáp cũng rất hiếm gặp. Nhiễm độc gan, bao gồm khả năng gây tử vong rất hiếm gặp (xem thêm mục Chú ý đề phòng).
Các phản ứng phụ về tim mạch, đặc biệt là loạn nhịp, thường có liên quan đến bệnh của hệ tim mạch đã có từ trước và tiền sử của việc điều trị độc tính trên tim. Bệnh cơ tim thoáng qua và có hồi phục rất hiếm gặp ở những bệnh nhân không có bệnh tim trước đó.
Những bất thường về xét nghiệm thường xảy ra khi dùng liều trên 10 MIU/ngày bao gồm giảm bạch cầu hạt và bạch cầu ; giảm nồng độ hémoglobine và số lương tiểu cầu ; tăng phosphatase kiềm, lactate déhydrogénase (LDH), créatinine huyết thanh, urea nitrogène huyết thanh và nồng độ TSH. Sự gia tăng nồng độ ALT/AST (SGOT, SGPT) trong huyết thanh đã đươc ghi nhận như một bất thường trên những đối tương không viêm gan cũng như trên một vài bệnh nhân viêm gan siêu vi mạn tính xảy ra cùng lúc với sự thải loại DNAp của virus.
Tiêm vào trong sang thương :
Hầu hết các tác dụng ngoại ý là nhẹ cho đến trung bình, thoáng qua và có thể hồi phục nhanh chóng. Mức độ của các tác dụng ngoại ý đươc báo cáo xảy ra trên những bệnh nhân đươc điều trị bệnh mồng gà, cho thấy có gia tăng tương ứng với số lương sang thương điều trị và do đó, phụ thuộc vào liều lương.
Tác dụng ngoại ý thường gặp nhất là hội chứng giống như bệnh cúm, (ớn lạnh, sốt, nhức đầu, đau cơ và mệt mỏi). Các tác dụng ngoại ý thông thường khác đươc báo cáo bao gồm buồn nôn, mệt mỏi, chóng mặt, đau khớp, đau lưng và phản ứng tại chỗ (bỏng rát, ngứa, đau và chảy máu nơi tiêm). Trên bệnh nhân đươc điều trị bệnh mồng gà, phản ứng tại nơi tiêm cho thấy phụ thuộc vào diển tiến của sang thương hơn là vào việc điều trị với Intron A.
Các tác dụng ngoại ý hiếm gặp bao gồm tiêu chảy, buồn ngủ, trầm cảm, đau, khó tiêu, vã mồ hôi, triệu chứng dạng cúm không đặc hiệu, lẫn lộn, yếu ớt, nôn mửa, nóng bừng, vop bẻ ở chân, suy nhươc, thay đổi vị giác, viêm da và ngứa.
Giảm bạch cầu, gia tăng nồng độ men gan trong huyết thanh (AST/SGOT) và giảm số lương tiểu cầu đã đươc báo cáo xuất hiện trên một vài bệnh nhân tiêm Intron A vào trong sang thương. Hầu hết các thay đổi cận lâm sàng này là thoáng qua, hồi phục nhanh chóng và chỉ ở trong mức độ từ nhẹ đến trung bình.
Tác dụng ngoại ý và kết quả xét nghiệm bất thường quan sát đươc ở những bệnh nhân đươc tái điều trị bệnh mồng gà bằng Intron A thì tương tự về mặt định tính cũng như định lương với những tác dụng ngoại ý đươc báo cáo trước đó.
Các tai biến sau đã đươc báo cáo xảy ra rất hiếm sau khi dùng Intron A :
Rối loạn về huyết hoc : thiếu máu huyết tán, tăng gamma-globuline, rối loạn đông máu.
Tổng thể : mất nước, tăng calci huyết, suy mòn, phù ngoại vi, bệnh hạch bạch huyết, phù quanh hốc mắt, sốt cao ác tính, thải loại cơ quan ghép và toan hóa máu.
Tim mạch : đánh trống ngực, hạ huyết áp tư thế, đau ngực, tim chậm, suy tim, rung nhĩ, loạn nhịp, ngoại tâm thu, đau thắt ngực, viêm tĩnh mạch huyết khối và thiếu máu cục bộ ngoại biên.
Hệ thần kinh trung ương và ngoại biên : mất trí nhớ, trạng thái sững sờ, co giật, tăng trương lực cơ, tăng cảm, bừng hỏa, nhức nửa đầu, bệnh não, run rẩy, hôn mê, rối loạn ngoại tháp, sa sút trí tuệ liệt, rối loạn lời nói, ngất, ù tai, chóng mặt, phối hơp bất thường, mất điều hòa, thất ngữ, rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương, dáng đi bất thường, tăng vận động, loạn trương lực cơ, liệt.
Hệ nội tiết : chứng to vú ở nam giới, nam hoá, nặng thêm bệnh tiểu đường, tăng đường huyết.
Hệ tiêu hóa : ơ hơi, viêm miệng, táo bón, tắc ruột, khát nước, đại tiện máu đen, tăng tiết nước bot, viêm thực quản, xuất huyết trực tràng sau khi đi tiêu, khó nuốt, xuất huyết tiêu hóa, loét dạ dày, viêm lơi, tăng sản lơi, xuất huyết trực tràng, bạch sản miệng, nhơt nhạt niêm mạc đường tiêu hóa, trướng bụng, đầy hơi, lưỡi nhơt nhạt, viêm lưỡi, mất vị giác.
Hệ gan mật : kết qua xét nghiệm bất thường chức năng gan, tăng bilirubine huyết, vàng da, gan lách to, lách to, bệnh não do gan.
Hệ cơ xương : đau xương, yếu cơ, viêm khớp, bệnh khớp, bệnh cơ.
Rối loạn tâm thần : bất lực, bồn chồn, dễ xúc cảm, rối loạn tính cách, suy nghĩ bất thường, cố gắng tự tử, ác mộng, lãnh đạm, trầm cảm nặng hơn, loạn thần kinh, phản ứng hung dữ, cảm giác giống say rươu, ảo giác, sa sút trí tuệ.
Hệ sinh dục : khí hư, đa kinh, xuất huyết tử cung, xuất huyết âm đạo, mất kinh.
Rối loạn cơ chế đề kháng : chắp mắt, viêm kết mạc, nhiễm nấm và virus, bệnh candida, nhiễm khuẩn.
Hệ hô hấp : giảm oxy không khí thở vào, tiếng thở rít, sung huyết mũi, viêm phổi, viêm xoang, viêm mũi, co thắt phế quản, tím tái, thở khò khè, đau màng phổi, hắt hơi, ho khan, nghẽn mạch phổi, phù phổi, viêm thanh quản.
Da và phần phụ của da : mề đay, trứng cá, bệnh móng, ban xuất huyết, thiếu máu cục bộ ngoại vi, nhot, mụn lở không herpès, hoại tử biểu bì, rối loạn tuyến lệ, nhạy cảm ánh sáng, da nhơt nhạt, nám da, bất thường kết cấu tóc, tăng moc tóc, mất sắc tố da, viêm da dạng liken, nhiễm hắc sắc tố và bạch biến da.
Hệ niệu : rối loạn tiểu tiện, tiểu đêm, đa niệu, tiểu ra máu, tiểu nhiều lần, viêm bàng quang, thiểu niệu, hội chứng thận hư, tiểu không kiềm chế, tăng acide urique huyết.
Rối loạn thị giác và thính giác : viêm kết mạc, sơ ánh sáng, nhìn mờ, song thị, khô mắt, liệt dây thần kinh vận động mắt, bệnh võng mạc, xuất huyết võng mạc, quáng gà, đau tai, điếc, tăng thính lực.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Tiền sử tăng mẫn cảm đối với Interferon alfa-2b hay bất cứ thành phần nào của Intron A.

Leave a Reply