Imperial Evening Primrose Oil

HÃNG SẢN XUẤT: Swiss Cap
NHÓM THUỐC: Dinh dưỡng, chuyển hóa
THÀNH PHẦN: viên nang mềm 1000 mg : chai 60 viên.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Evening Primrose Oil 1000 mg
TÍNH CHẤT
Oenothera Biennis L. – Evening Primrose (EP) đã đươc biết tới như một thuốc hữu hiệu của người Indian và đươc đem đến Châu Âu vào thế kỷ thứ 17. Tuy nhiên, chưa biết đươc cơ chế tác động của thuốc cho đến những năm 1960 khi người ta tìm hiểu đươc về Prostaglandin (PG). EP Oil chứa một tỷ lệ cao acid béo chưa bão hòa và là những acid béo thiết yếu như linoleic acid (hơn 70%) và đặc biệt là gamma-linoleic acid (7-9%) – là tiền chất của PGE, là chất có tác dụng ức chế sự kết tập tiểu cầu và co mạch.
Các acid béo thiết yếu là thành phần quan trong của màng tế bào và là tiền chất của prostaglandin, một chất có hoạt tính sinh hoc mạnh. Do đó, sự thiếu hụt các acid béo thiết yếu sẽ dẫn đến những rối loạn sâu sắc tại mô và cơ quan. Thông thường, alpha-linoleic acid hấp thu vào cơ thể đươc chuyển thành gamma-linoleic acid bởi men 6-delta-desaturase ; đến lươt nó, chất này chuyển thành dihomo-gamma-linoleic acid sau đó chuyển thành PGE, là một chất bảo vệ tim mạch nội sinh.
Thực nghiệm cho thấy rằng PGE1 có thể ức chế sự kết tập tiểu cầu và hình thành thromboxane (TXA2). EP Oil và dihomo-gamma-linoleic acid cũng có tác dụng tương tự.
Ngày nay, người ta đã xác định rằng TXA2 đươc hình thành từ tiểu cầu là một PG tạo đông máu mạnh, làm co mạch và kết tập tiểu cầu ; ngươc lại, prostacyclin (PGI2) sinh ra từ nội mô mạch, làm giãn cơ trơn mạch máu và ức chế kết tập tiểu cầu. Quan niệm đươc chấp nhận rộng rãi hiện nay là tỷ lệ TXA2/PGI2 có liên quan chặt chẽ đến sự duy trì tình trạng bình thường bên trong của hệ tim mạch.
Sự gia tăng TXA2 hay TXA2/PGI2 có thể dẫn đến huyết khối và xơ cứng động mạch.
Hoạt động của delta-6-desaturase bị suy giảm ở người lớn tuổi, và do đó, alpha-linoleic acid khó có thể chuyển thành gamma-linoleic acid, dẫn đến sự thiếu hụt gamma-linoleic acid, dihomo-gamma-linoleic acid và cả PGE1.
Các quan sát trên lâm sàng :
Trên bệnh xơ cứng động mạch và bệnh mạch vành :
PGE có thể ức chế một cách hữu hiệu chứng vữa động mạch gây ra trong thực nghiệm cho thỏ, Matinow MR đã báo cáo rằng các acid béo thiết yếu không chỉ ức chế sự hình thành vữa động mạch, hạ huyết áp mà còn tạo ra tiến trình hồi phục. Trong 10 năm qua, tỷ lệ tử vong của người Mỹ do bệnh tim mạch vành đã giảm đến 20-25% do gia tăng thêm tỷ lệ acid béo không no trong chế độ ăn uống. Tương tự, tỷ lệ gamma-linoleic acid trong mô mỡ của người Mỹ cũng tăng lên. Uống 3 g EP Oil có thể gia tăng thành phần dihomo gamma-linoleic acid trong huyết tương lên đến 6 đến 9 lần. Quan sát trên 228 bệnh nhân có lipid trong máu cao cho thấy rằng sau 4-6 tuần dùng 1,8-2,4 h EP Oil mỗi ngày, cholesterol, triglyceride và lipoprotein tỷ trong thấp trong huyết thanh giảm đáng kể, lipoprotein tỷ trong cao tăng và khả năng kết tập tiểu cầu giảm rõ rệt. Tỷ lệ giảm trung bình là 55,3%.
Bệnh mạch máu ngoại vi :
EP Oil có thể làm cải thiện dung nạp vận động trong một nhóm người bị khập khễnh cách hồi do nghẽn mạch. PGE là một chất giãn mạch mạnh làm cải thiện tốt cho những bệnh nhân bị co thắt mạch do hội chứng Raynaud và làm giảm đau thắt ngực ở người.
Tiểu đường :
Trên thú vật bị tiểu đường, hoạt động của delta-6-desaturase bị ức chế. Hơn nữa, PGE có tác động giống như insulin có thể làm mạnh hơn tác động của insulin. Do đó, tiểu đường có thể dẫn đến thiếu hụt chức năng về acid béo thiết yếu. Nồng độ thấp acid béo thiết yếu trong tiểu cầu đã đươc quan sát thấy ở người bị tiểu đường. Số trường hơp phát triển bệnh võng mạc và biến chứng tim mạch trên bệnh nhân đươc cung cấp acid béo thiết yếu ít hơn một nửa so với nhóm bệnh nhân có chế độ ăn uống thông thường. Quan sát cho thấy sự sử dụng EP Oil có thể làm hạ đường huyết ở bệnh nhân có đường huyết cao.
Béo phì :
EP Oil dùng trên những bệnh nhân tâm thần và một vài người bình thường đã cho thấy làm giảm cân, đặc biệt ở những người béo phì do bất thường chuyển hóa. Các kết quả này cũng đươc chứng minh qua quan sát thấy nhiều nghệ sĩ Nhật Bản dùng EP Oil thấy da tươi trẻ hơn và làm giảm thể trong.
Hội chứng trước kỳ kinh nguyệt và bệnh phụ nữ :
Kết quả nghiên cứu trên 68 phụ nữ bị hội chứng tiền kinh nguyệt nặng ở St. Thomas Medical School cho thấy rằng EP Oil giúp hai phần ba số người này giảm hoàn toàn các triệu chứng và 22% khác có đáp ứng một phần. 26 trên 36 phụ nữ bị đau vú trước chu kỳ kinh đã khỏi đau hoàn toàn. Theo Kathryn Marsden, EP/Oil hữu ích cho các phụ nữ bị khô âm đạo, hay sẩy thai.
Eczema dị ứng :
Bệnh nhân tham gia hai nghiên cứu lớn về điều trị eczema trong 12 tuần cho thấy có đáp ứng cao rõ rệt với EP Oil so với giả dươc. Eczema thường xảy ra ở trẻ em chuyển từ bú mẹ sang bú bình vì sữa mẹ có chứa acid béo thiết yếu. Có thể một vài bệnh nhân eczema bị giảm chuyển đổi từ linoleic acid thành gamma-linoleic acid.
Rối loạn thần kinh – Bệnh tâm thần phân liệt :
Abdulla và Hanadah của Gay’s Hospital ở London đã báo cáo rằng tiểu cầu của những người bị tâm thần phân liệt bị thiếu hụt trong một chuỗi prostaglandin đươc hình thành từ dihomo gamma-linoleic acid. Điều trị tâm thần phân liệt với EP Oil có thể cải thiện triệu chứng trơ cảm xúc và tránh né xã hội và cho biểu hiện cảm xúc và giao tiếp với xã hội.
Nghiện rươu :
Rươu thúc đẩy chuyển dihomo gamma-linoleic acid thành PGE1. Nồng độ PGE1 tăng trong tình trạng hưng cảm giống như ngộ độc rươu cấp làm kích thích. Tác dụng của rươu trong kích thích tổng hơp PGE1 có khuynh hướng làm cạn dự trữ dihomo gamma-linoleic acid. Rươu cũng ức chế delta-6-desaturase, do đó làm giảm chuyển linoleic acid thành gamma-linoleic acid. Do đó, bỏ uống rươu sẽ làm giảm mạnh nồng độ PGE1. Do đó, hoặc là bổ sung thêm PGE1 hay làm đầy trở lại dự trữ dihomo gamma-linoleic acid bằng cách uống acid béo thiết yếu có thể làm giảm bớt mức độ trầm trong của hội chứng cai rươu. Tiêm PGE1 có thể là ngăn ngừa thoái hóa gan trên thú vật đươc xử lý với rươu và tổn thương thai nhi cả trên thú và người.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Dùng như nguồn bổ sung thực phẩm, dự phòng xơ cứng động mạch, bệnh tim mạch vành, tiểu đường ; béo phì ; làm chậm lão hóa ; eczema dị ứng, hội chứng tiền kinh nguyệt ; bệnh tâm thần phân liệt ; ngộ độc rươu ; giảm viêm khớp ; giảm xơ cứng rãi rác.
Giữ làn da tươi trẻ, chống rụng tóc.
CÁCH DÙNG: Uống mỗi lần một viên nang mềm, một hoặc hai lần mỗi ngày.
TÁC DỤNG PHỤ: .

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: .

Leave a Reply