Glucophage 850

HÃNG SẢN XUẤT: Groupe Lipha Sante
NHÓM THUỐC: Tiểu đường
THÀNH PHẦN: viên bao tác động kéo dài 850 mg : hộp 30 viên và hộp 100 viên.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Metformine chlorhydrate 850 mg
tương ứng : Metformine base 663 mg
DƯỢC LƯC
Metformine là một biguanide dùng điều trị bệnh tiểu đường, thuốc này khác với các thuốc sulfamide hạ đường huyết ở cơ chế tác dụng, chỉ định và các lưu ý khi sử dụng.
Metformine không kích thích việc tiết insuline như trường hơp các sulfamide. Thuốc không có tác dụng hạ đường huyết ở người không mắc bệnh tiểu đường. Thuốc làm giảm tình trạng tăng đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường mà không gây ra các tai biến hạ đường huyết (trừ trường hơp nhịn đói hoặc dùng kết hơp với thuốc khác : xem mục Thận trong lúc dùng).
Phương thức tác dụng ngoại biên của metformine đươc thể hiện qua việc :
- Gia tăng sử dụng glucose ở tế bào.
- Cải thiện liên kết insuline-thụ thể (récepteur) và chắc chắn có tác dụng hậu thụ thể.
- Ức chế sự tân tạo glucose ở gan.
- Chậm hấp thu glucose ở ruột.
Ở người, ngoài tác dụng điều trị tiểu đường, metformine còn tạo thuận lơi cho sự chuyển hóa của lipide. Điều này đã đươc chứng minh qua các nghiên cứu có kiểm soát trung hạn và dài hạn : metformine làm giảm cholestérol toàn phần và LDL-cholestérol, cũng như triglycéride toàn phần.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu :
Sau khi uống thuốc, sự hấp thu của metformine qua đường tiêu hóa bị chi phối bởi một cơ chế đươc bão hòa và không hoàn chỉnh. Có 20-30% thuốc uống vào đươc tìm thấy trong phân. Độ khả dụng sinh hoc tuyệt đối của các viên thuốc trung bình vào khoảng 50-60%.
Uống thuốc trong bữa ăn sẽ làm giảm và làm chậm sự hấp thu của metformine.
Phân bố : metformine đươc khuếch tán nhanh đến các mô, tỉ lệ liên kết với protéine huyết tương không đáng kể.
Chuyển hóa và đào thải :
Metformine hầu như không bị chuyển hóa. Thuốc đươc đào thải chủ yếu qua thận. Sự thanh thải của thuốc ở người có chức năng thận bình thường vào khoảng 440 ml/phút (gấp 4 lần so với sự thanh thải của créatinine), điều đó chứng tỏ thuốc đươc loc tại cầu thận sau đó lại đươc bài tiết tại ống thận.
Thời gian bán thải của thuốc dao động từ 9 đến 12 giờ.
Trong trường hơp bị suy thận, thời gian bán thải của metformine tăng, dẫn đến nguy cơ tích tụ thuốc.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Tiểu đường không nhiễm toan thể cétone, không lệ thuộc insuline ở người trưởng thành (tiểu đường type II), đặc biệt ở người có thể trong béo phì, sau khi đã áp dụng chế độ ăn kiêng mà không cân bằng đươc đường huyết.
Bổ sung cho liệu pháp insuline :
- trong điều trị tiểu đường type I,
- trong điều trị tiểu đường type II, đặc biệt trong trường hơp bệnh nhân bị béo phì nặng đồng thời kháng với liệu pháp insuline.
CÁCH DÙNG: Tiểu đường không phụ thuộc insuline type II :
Liều trung bình là 2 viên/ngày, chia làm 2 lần cách nhau 12 giờ (uống trong bữa ăn hoặc vào cuối bữa ăn). Liều lương này có thể tăng lên đến 3 viên mà không có trở ngại nào.
Việc dùng Glucophage 850 mg để thay thế cho một trị liệu khác bằng đường uống thì đơn giản : ngưng điều trị bằng thuốc hạ đường huyết trước đó, thay thế bằng Glucophage 850 với liều lương nêu ở trên.
Tiểu đường phụ thuộc insuline : Trong tiểu đường phụ thuộc insuline, Glucophage 850 mg không bao giờ thay thế đươc insuline, nhưng nếu phối hơp với insuline sẽ giúp giảm liều lương insuline sử dụng và đạt tình trạng ổn định hơn về đường huyết. Việc định lương đường trong máu mao mạch cho phép gia giảm liều lương insuline sử dụng hàng ngày.
Nếu tuyến tụy còn hoạt động tốt, việc thay thế hoàn toàn bằng metformine đôi khi cũng có thể đươc.
Nếu liều insuline sử dụng thấp hơn 40 đơn vị, Glucophage 850 mg đươc dùng với liều thông thường 2 viên/ngày. Đồng thời giảm dần liều insuline từ 2 đến 4 đơn vị trong 2 ngày.
Nếu liều insuline sử dụng vươt quá 40 đơn vị/ngày, nên cho bệnh nhân nhập viện để thực hiện điều trị phối hơp. Kết quả định lương đường trong máu mao mạch giúp giảm từ từ liều lương của insuline.
QUÁ LIỀU
Ngay cả khi uống metformine quá liều đến 85 g vẫn không ghi nhận bị tụt đường huyết, nhưng bệnh nhân thường bị nhiễm toan acide lactique trong những trường hơp này.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Chú ý đề phòng :
Cảnh giác nhiễm toan acide lactique :
Metformine có thể dẫn đến hoặc tạo điều kiện gây tình trạng nhiễm toan acide lactique. Biến chứng chuyển hóa này gây tỷ lệ tử vong cao trong trường hơp không điều trị sớm. Nếu theo dõi chặt chẽ các yếu tố nguy cơ thì có thể giảm tỷ lệ mắc nhiễm toan acide lactique.
- Tình huống gây nhiễm toan :
- suy thận cấp, thực thể hoặc chức năng, đóng một vai trò chủ yếu, điều này chứng tỏ có sự tích tụ metformine do khiếm khuyết thải trừ qua đường tiểu ;
- tiểu đường không ổn định, tình trạng tích tụ thể cétone, nhịn đói kéo dài, nghiện rươu, suy tế bào gan cũng như moi tình trạng giảm oxy huyết là những yếu tố phát sinh bệnh.
- Dấu hiệu báo trước :
trên bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc, thầy thuốc phải cảnh giác khi xuất hiện tình trạng vop bẻ cơ (chuột rút), kèm theo rối loạn tiêu hóa, đau bụng và suy nhươc toàn diện. Phải ngưng điều trị ngay, khi nồng độ acide lactique trong máu tĩnh mạch tăng cao hơn bình thường, kèm theo tình trạng tăng créatinine trong máu.
Ghi chú : khi lấy máu để định lương acide lactique, để bệnh nhân ở tình trạng thư giãn, không buộc ga-rô, định lương ngay tức khắc hoặc ướp đá khi vận chuyển.
- Chẩn đoán : nhiễm toan acide lactique thể hiện qua tình trạng khó thở kiểu nhiễm toan, đau bụng, hạ thân nhiệt, sau đó là tình trạng hôn mê. Chẩn đoán sinh hoc bao gồm : giảm pH máu, nồng độ acide lactique trong máu cao hơn 5 mmol/l, tăng tỷ lệ lactate/pyruvate. Khi nghi ngờ có nhiễm toan chuyển hóa, nên ngừng ngay việc điều trị bằng metformine và cho bệnh nhân nhập viện khẩn cấp.
Tỷ lệ mắc bệnh : ở Pháp, trong số các bệnh nhân tiểu đường điều trị bằng metformine, tỷ lệ nhiễm toan acide lactique là một ca trên 40.000 năm/bệnh nhân.
Thận trong lúc dùng :
- Trong moi trường hơp, khi điều trị bằng thuốc vẫn phải áp dụng chế độ ăn kiêng ít glucide, hoặc chế độ ăn kiêng ít năng lương và ít glucide nếu bệnh nhân bị béo phì.
Cần tiến hành đều đặn các xét nghiệm kiểm tra sinh hoc thông thường của bệnh nhân tiểu đường.
- Phải định lương nồng độ créatinine trước khi điều trị (créatinine trong máu bình thường < 135mM/l ở đàn ông và < 110mM/l ở phụ nữ) và sau đó phải kiểm tra đều đặn :
- mỗi năm một lần ở những đối tương có chức năng thận bình thường.
- mỗi năm từ 2 đến 4 lần nếu nồng độ créatinine trong máu nằm ở giới hạn trên khoảng giới hạn bình thường, đặc biệt là ở bệnh nhân lớn tuổi (có giới hạn trên thấp hơn so với chuẩn).
Ở bệnh nhân lớn tuổi, việc bị suy thận thường hay xảy ra và thường không có triệu chứng, do đó khi điều trị bằng metformine phải giám sát chặt chẽ nồng độ créatinine trong máu.
Phải thận trong khi có tăng créatinine trong máu, thí dụ như khi bắt đầu điều trị cao huyết áp bằng thuốc lơi tiểu.
- Trong trường hơp chụp X quang bằng chất cản quang đường tĩnh mạch (chụp hệ niệu qua đường tĩnh mạch, chụp X quang mạch máu…), phải ngưng sử dụng Glucophage 500 mg 48 giờ trước và chỉ sử dụng trở lại 48 giờ sau khi làm xét nghiệm để tránh nguy cơ xuất hiện bất ngờ nhiễm toan acide lactique.
- Phải xem xét đến việc sử dụng insuline trong trường hơp có phẫu thuật hoặc có những nguyên nhân khác gây ra tiểu đường mất bù.
- Một số thuốc gây tăng đường huyết (corticoide, thuốc lơi tiểu nhóm thiazide, thuốc uống tránh thai…) có thể làm thay đổi diễn biến tiểu đường. Trong trường hơp này, hoặc phải tăng liều, hoặc phải kết hơp với sulfamide hạ đường huyết, hoặc phải sử dụng insuline.
- Dùng metformine riêng lẻ không bao giờ dẫn đến hạ đường huyết ; tuy nhiên, phải cảnh giác với việc gia tăng tiềm lực thuốc khi dùng kết hơp với insuline hoặc sulfamide hạ đường huyết.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Những nguy cơ có liên quan đến bệnh tiểu đường :
Bệnh tiểu đường (do mang thai hay đã mắc phải trước khi mang thai) nếu không đươc cân bằng sẽ là nguồn gốc của việc tăng nguy cơ gây dị tật và chết thai.
Trong giai đoạn xung quanh thai kỳ, bệnh tiểu đường cần phải đươc điều trị tốt nhằm giảm nguy cơ gây dị tật.
Những nguy cơ có liên quan đến metformine :
Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy thuốc có tác dụng gây quái thai. Do không có tác dụng gây quái thai trên động vật, nguy cơ gây dị tật khi sử dụng trên người không xảy ra. Trên thực tế, cho đến nay, các chất gây dị tật bào thai khi dùng cho người đều là những chất gây quái thai khi sử dụng cho động vật trong những công trình nghiên cứu đươc thực hiện trên cả hai loài.
Trên lâm sàng, một số nghiên cứu đã đươc thực hiện trên những nhóm ít bệnh nhân không cho thấy metformine có tác dụng gây dị tật bào thai.
Hướng xử lý :
Việc cân bằng lại đường huyết giúp cho tiến trình mang thai đươc bình thường.
Cần phải điều trị bằng insuline cho dù tiểu đường thuộc vào loại nào (type I hay type II hay do mang thai).
Trong trường hơp tiểu đường do mang thai, đầu tiên nên điều trị bằng insuline dạng uống ngay khi phát hiện và sau đó chuyển sang dùng metformine : trong trường hơp này, không khuyên bệnh nhân phải phá thai nhưng cần phải thận trong và tăng cường theo dõi trong suốt thai kỳ.
Nên theo dõi đường huyết cho trẻ trong giai đoạn sơ sinh nếu có mẹ bị bệnh tiểu đường.
Lúc nuôi con bú : do còn thiếu số liệu về sự bài tiết của thuốc qua sữa mẹ, không chỉ định thuốc này cho bà mẹ trong giai đoạn nuôi con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Không nên phối hơp :
- Danazol : do danazol có tác dụng gây tiểu đường. Nếu bắt buộc phải phối hơp, cần thông báo cho bệnh nhân và tăng cường tự theo dõi nồng độ đường trong máu và trong nước tiểu. Nếu cần, nên điều chỉnh liều metformine trong thời gian phối hơp với điều trị bằng danazol và sau khi ngưng phối hơp.
- Alcool : làm tăng nguy cơ gây nhiễm toan acide lactique khi bệnh nhân bị ngộ độc rươu cấp, nhất là khi bụng đói hay bị suy dinh dưỡng, bị suy tế bào gan. Cần tránh uống rươu hay các thức uống có chứa alcool trong thời gian điều trị.
Thận trong khi phối hơp :
- Chlorpromazine ở liều cao (100 mg/ngày) : làm tăng đường huyết (do làm giảm sự giải phóng insuline). Cần thông báo cho bệnh nhân và tăng cường tự theo dõi nồng độ đường trong máu và trong nước tiểu. Nếu cần, nên điều chỉnh liều metformine trong thời gian phối hơp với điều trị bằng thuốc an thần kinh và sau khi ngưng phối hơp.
- Corticoide (gluco ; đường toàn thân và tại chỗ : trong khớp, ngoài da và thụt rửa trực tràng) và tétracosactide : làm tăng đường huyết, đôi khi gây nhiễm thể cétone (do corticoide làm giảm sự dung nạp glucide). Cần thông báo cho bệnh nhân và tăng cường tự theo dõi đường huyết, nhất là khi bắt đầu điều trị. Nếu cần, nên điều chỉnh liều metformine trong thời gian phối hơp với điều trị bằng corticoide và sau khi ngưng phối hơp.
- Thuốc lơi tiểu : metformine có thể gây nhiễm toan acide lactique, đươc phát động do suy thận chức năng, có liên quan đến thuốc lơi tiểu và nhất là các thuốc lơi tiểu vùng quai. Không dùng metformine khi créatinine huyết vươt quá 135 mM/l ở đàn ông và 110 mM/l ở phụ nữ.
Thuốc cản quang có iode : gây nhiễm toan acide lactique, đươc phát động do suy thận chức năng, gây bởi việc thực hiện xét nghiệm bằng quang tuyến ở bệnh nhân tiểu đường.
Phải ngưng dùng metformine 48 giờ trước khi làm xét nghiệm bằng quang tuyến, và chỉ dùng thuốc trở lại sau khi làm xét nghiệm 2 ngày.
- Thuốc giống giao cảm bêta-2 : ritodrine, salbutamol, terbutaline (đường tiêm) : làm tăng đường huyết do kích thích bêta-2. Tăng cường theo dõi nồng độ đường trong máu và trong nước tiểu. Tùy tình hình, có thể chuyển sang dùng insuline.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Rối loạn dạ dày ruột : buồn nôn, nôn ói, tiêu chảy ; các rối loạn này thường xảy ra trong lúc điều trị ban đầu và sau đó tự giảm dần trong phần lớn các trường hơp. Có thể làm dịu bớt các rối loạn này bằng cách dùng tạm loại bột trơ (có tác dụng băng niêm mạc dạ dày ruột) hoặc các dẫn xuất atropine hoặc các thuốc chống co thắt. Để ngăn ngừa các rối loạn tiêu hóa, nên uống metformine trong bữa ăn hoặc vào cuối bữa ăn, và chia đều làm 2 hoặc 3 lần trong ngày. Ngưng điều trị nếu các rối loạn này kéo dài.
Nhiễm toan acide lactique (xem mục Chú ý đề phòng và Thận trong lúc dùng).

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Tuyệt đối :
- Suy thận dù ở mức độ nhẹ, về thực thể hoặc chức năng (nồng độ créatinine trong máu ³ 135 mM/l ở đàn ông và ³ 110 mM/l ở phụ nữ : giá trị giới hạn này giảm đi tùy theo tuổi sinh lý và khối lương cơ).
- Bệnh lý cấp tính có nguy cơ gây thoái hóa chức năng thận : mất nước (tiêu chảy, nôn mửa), sốt, tình trạng nhiễm trùng và/hoặc thiếu oxy nghiêm trong (tình trạng choáng, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng đường niệu, bệnh lý phổi).
- Thăm dò bằng các chất cản quang dẫn xuất iode (UIV, chụp X quang mạch máu) : theo nguyên tắc chung, tránh thực hiện trên bệnh nhân tiểu đường ; trong trường hơp cần thiết, phải ngưng dùng metformine trước 48 giờ và chỉ dùng thuốc trở lại sau khi chụp X quang thăm dò 48 giờ.
- Nhiễm toan thể cétone mất bù, tiền hôn mê tiểu đường.
- Biểu hiện lâm sàng của một bệnh cấp hoặc mãn có thể dẫn đến thiếu oxy nghiêm trong ở mô (suy tim hoặc suy hô hấp, gần đây bị nhồi máu cơ tim…)
- Suy tế bào gan, ngộ độc ruột cấp tính.
- Phụ nữ có thai và cho con bú.
Tương đối :
- Alcool, danazol (xem mục Tương tác thuốc).

Leave a Reply