Exelon

HÃNG SẢN XUẤT: Novartis
NHÓM THUỐC: Thần kinh
THÀNH PHẦN: viên nang 1,5 mg : chai 60 viên – Bảng B.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Rivastigmine 1,5 mg
DƯỢC LƯC
Những thay đổi bệnh lý trong bệnh Alzheimer liên quan đến các con đường tiết acetylcholine (cholinergic) của tế bào thần kinh, đi từ nền não trước đến vỏ não và hồi hải mã. Những con đường này đã đươc biết là liên quan đến chú ý, hoc tập, trí nhớ và các quá trình nhận thức khác. Rivastigmine, một chất ức chế chon loc acetylcholinesterase não kiểu carbamate đươc cho là đã làm dễ dàng cho dẫn truyền thần kinh của acetylcholine bằng cách làm chậm thoái biến acetylcholine do các tế bào thần kinh có chức phận nguyên vẹn tiết ra. Các dữ liệu nghiên cứu trên súc vật cho thấy rivastigmine làm tăng có chon loc acetylcholine trong vỏ não và hồi hải mã. Như vậy, Exelon có thể có tác dụng cải thiện thiếu hụt nhận thức qua trung gian acetylcholine trong bệnh Alzheimer. Ngoài ra, có một số chứng cớ cho thấy ức chế cholinesterase có thể làm chậm sự tạo thành các mảnh protein tiền chất amyloidogenic b-amyloid (APP) và do đó là các tấm amyloid, một trong những đặc điểm bệnh hoc chính của bệnh Alzheimer.
Rivastigmine tương tác với enzym đích của nó bằng cách tạo thành một phức hơp gắn đồng hóa trị làm enzym bị bất hoạt tạm thời. Ở người, một liều uống 3 mg làm giảm hoạt tính của acetylcholinesterase trong dịch não tủy khoảng xấp xỉ 40% trong vòng 1,5 giờ đầu tiên sau khi dùng. Hoạt tính của enzym trở lại mức cơ bản khoảng 9 giờ, sau khi tác dụng ức chế đạt mức cực đại. Ở các bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, tác động ức chế acetylcholinesterase trong dịch não tủy của rivastigmine phụ thuộc vào liều lương tới 6 mg, cho ngày 2 lần, liều cao nhất đươc thử nghiệm.
Nghiên cứu lâm sàng :
Hiệu lực của Exelon trong điều trị bệnh Alzheimer đã đươc chứng minh trong các nghiên cứu đối chứng với placebo. Kết quả của hai nghiên cứu chủ chốt đa trung tâm trong 26 tuần, so sánh liều 1 tới 4 mg/ngày và 6 tới 12 mg/ngày với placebo cũng như phân tích gộp của các nghiên cứu pha III đã xác định rằng Exelon đã cải thiện có ý nghĩa những lĩnh vực chủ yếu của nhận thức, chức phận chung và các hoạt động thường ngày và trong mức độ của bệnh. Cả những mức liều lương thấp và cao đều cho thấy hiệu quả tốt về mặt nhận thức, chức phận chung và mức độ bệnh ; ngoài ra, mức liều lương cao hơn còn có hiệu quả tốt đối với các hoạt động thường ngày.
Các cách đánh giá kết quả chủ yếu sau đây đã đươc dùng trong nghiên cứu :
Thang đánh giá bệnh Alzheimer (ADAS-Cog) : một hệ thống thử nghiệm dựa trên hiệu năng để đo các lĩnh vực nhận thức phù hơp với các bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer, ví dụ như chú ý, hoc tập, trí nhớ và ngôn ngữ ;
Cảm tưởng về Thay đổi-Tăng (Change-Plus) dựa trên phỏng vấn lâm sàng (CIBIC-Plus) : một đánh giá cho điểm của nhà lâm sàng về thay đổi chung của bệnh nhân trong các lĩnh vực nhận thức, hành vi và chức phận, kết hơp các ý kiến riêng rẽ của bệnh nhân và thầy thuốc ;
Thang đánh giá Suy thoái tiến triển (Progressive Deterioration Scale) : đánh giá cho điểm của thầy thuốc về khả năng bệnh nhân thực hiện những hoạt động thường ngày, ví dụ như vệ sinh, tắm rửa, ăn uống, giúp việc vặt trong nhà và đi mua bán.
Các nghiên cứu cho thấy hiệu quả thường xuất hiện sớm vào tuần thứ 12 và duy trì đươc cho tới hết 6 tháng điều trị. Bệnh nhân đươc điều trị bằng liều từ 6 đến 12 mg thấy có cải thiện trong nhận thức, các hoạt động thường ngày và chức phận chung, trong khi bệnh nhân dùng placebo thấy có suy thoái. các tác dụng của Exelon trên những phép đo đó (ví dụ như ADAS-Cog khác placebo 5 điểm vào tuần 26) cho thấy có chậm trễ trong tốc độ suy thoái trong ít nhất 6 tháng.
Các phân tích đươc thực hiện để phát hiện những thử nghiệm phụ và triệu chứng, theo thứ tự của ADAS-Cog và CIBIC-Plus, đươc cải thiện ở những bệnh nhân điều trị bằng Exelon cho thấy những thử nghiệm phụ (subtest) của ADAS-Cog (khả năng hình thành khái niệm, định hướng, chỉ dẫn về thử nghiệm, nhớ lại các từ, khả năng ngôn ngữ và nhận biết các từ) đã đươc cải thiện một cách có ý nghĩa ở tuần thứ 26 với Exelon liều từ 6 đến 12 mg.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Hấp thu : Rivastigmine đươc hấp thu nhanh và hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đã đạt tới đươc trong xấp xỉ 1 giờ. Do kết quả tương tác của thuốc với enzym đích, độ tăng tính khả dụng sinh hoc là khoảng 1,5 lần lớn hơn so với tăng liều lương. Tính khả dụng sinh hoc tuyệt đối sau liều 3 mg vào khoảng 36%. Dùng rivastigmine cùng với thức ăn sẽ làm chậm sự hấp thu (Tmax) mất 90 phút cùng với giảm Cmax và tăng AUC xấp xỉ 30%.
Phân phối : Rivastigmine gắn với proteine huyết tương (xấp xỉ 40%). Nó dễ dàng đi qua hàng rào máu não và có thể tích phân phối biểu kiến trong dãy từ 1,8 đến 2,7 l/kg.
Chuyển hóa : Rivastigmine đươc chuyển hóa nhanh và rộng rãi (thời gian bán hủy trong huyết tương xấp xỉ 1 giờ) trước hết là qua thủy phân trung gian cholinesterase thành chất chuyển hóa đã mất carbamyl. Trong điều kiện in vitro, chất chuyển hóa này cho thấy ức chế tối thiểu của acetylcholinesterase (< 10%). Dựa trên những kết quả nghiên cứu in vitro và trên súc vật, các đồng enzym chính của cytochrome P450 chỉ dính líu rất ít tới chuyển hóa rivastigmine. Nhất quán với các nhận xét đó, kết quả phân tích đã không thấy có tương tác thuốc liên quan tới cytochrome P450 ở người (xem phần Tương tác thuốc).
Thải trừ : Không thấy trong nước tiểu có rivastigmine không biến đổi ; bài tiết qua thận của các chất chuyển hóa là con đường thải trừ chính. Sau khi dùng rivastigmine gắn 14C, thải trừ qua thận là nhanh và gần như hoàn toàn (> 90%) trong vòng 24 giờ. Dưới 1% liều đã dùng đươc thải trừ qua phân. Không có tích lũy rivastigmine hoặc chất chuyển hóa đã mất carbamyl trong bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer.
Người cao tuổi : Trong khi tính khả dụng sinh hoc của rivastigmine ở người già lớn hơn ở người tình nguyện trẻ tuổi khỏe mạnh, các nghiên cứu trên bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer ở độ tuổi giữa 50 và 92 không cho thấy rằng tính khả dụng sinh hoc có thay đổi theo tuổi tác.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Điều trị bệnh nhân sa sút trí tuệ nhẹ hoặc trung bình kiểu Alzheimer, cũng còn goi là có khả năng bệnh Alzheimer, hoặc bệnh Alzheimer.
CÁCH DÙNG: Cách dùng :
Uống hai lần mỗi ngày, trong bữa ăn sáng và ăn tối.
Liều lương :
Liều ban đầu : 1,5 mg hai lần mỗi ngày. Những bệnh nhân đặc biệt mẫn cảm với tác dụng của các thuốc tiết choline cần nên bắt đầu với liều 1 mg, hai lần mỗi ngày.
Chuẩn độ liều lương :
Liều khởi đầu nên dùng là 1,5 mg hai lần mỗi ngày. Nếu liều lương đó đươc dung nạp tốt sau ít nhất hai tuần điều trị, có thể tăng liều lên 3 mg, hai lần mỗi ngày. Các lần tăng tiếp sau tới 4,5 mg rồi 6 mg, hai lần mỗi ngày, cũng cần dựa vào khả năng dung nạp tốt của liều đang dùng và có thể xem xét lại sau ít nhất hai tuần điều trị với liều lương đó.
Nếu các có các tác dụng phụ (ví dụ như buồn nôn, nôn, đau bụng hoặc kém ăn) hoặc bị xuống cân trong khi điều trị, có thể giảm bớt liều dùng. Nếu các tác dụng phụ tồn tại dai dẳng, liều dùng hàng ngày cần đươc giảm tới mức liều lương trước đây đươc dung nạp tốt.
Liều duy trì : 1,5 đến 6 mg hai lần mỗi ngày ; để có hiệu quả điều trị tối đa, bệnh nhân cần giữ liều cao nhất đã dung nạp đươc.
Liều tối đa hàng ngày nên dùng : 6 mg hai lần mỗi ngày.
Dùng cho bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận hoặc gan :
Không cần điều chỉnh liều lương ở những bệnh nhân có suy giảm chức năng thận hoặc gan.
QUÁ LIỀU
Triệu chứng :
Hầu hết các trường hơp bất ngờ bị quá liều đều không kèm theo bất cứ dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng nào và hầu như moi bệnh nhân đó đều tiếp tục đươc điều trị với Exelon. Khi có triệu chứng thì đó là buồn nôn, nôn và tiêu chảy. Đa số các trường hơp này đều không cần điều trị. Đã có một trường hơp uống 46 mg, sau khi đươc điều trị bảo tồn, bệnh nhân đã hoàn toàn bình phục trong vòng 24 giờ.
Điều trị :
Vì rivastigmine có thời gian bán hủy trong huyết tương khoảng 1 giờ và thời gian ức chế acetylcholinesterase khoảng 9 giờ, trong trường hơp dùng quá liều Exelon, nên ngưng cho liều tiếp theo trong 24 giờ. Nếu dùng quá liều có kèm theo buồn nôn và nôn nặng, có thể cho thuốc chống nôn. Khi cần, có thể cho các thuốc điều trị triệu chứng đối với các tác dụng đối nghịch. Nếu bị dùng liều quá lớn, có thể cho atropine. Liều ban đầu atropine sulfate nên dùng là 0,03 mg/kg đường tĩnh mạch, các liều tiếp theo cần dựa trên đáp ứng lâm sàng. Không nên dùng scopolamine làm thuốc giải độc.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Exelon không có tác dụng đối nghịch với hệ tim mạch. Tuy nhiên, cũng như với các thuốc tác dụng giống choline (cholinomimetics), cần thận trong khi dùng Exelon ở những bệnh nhân có hội chứng loạn nhịp xoang hoặc loạn nhịp tim nặng. Kích thích tiết acetylcholine có thể gây tăng tiết dịch acid dạ dày. Tuy dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng không thấy bất kỳ sự gia tăng có ý nghĩa nào trong các triệu chứng gơi ý tới bệnh loét, vẫn cần thận trong khi điều trị cho những bệnh nhân có khuynh hướng dễ mắc các bệnh đó.
Bệnh nhân điều trị bằng Exelon không thấy có dấu hiệu hoặc triệu chứng hô hấp mới có hoặc bột phát của bệnh đã mắc từ trước, kể cả những bệnh nhân có tiền sử hoặc đang có bệnh hô hấp. Tuy nhiên, cũng như với các thuốc giống choline khác, cần dùng Exelon một các thận trong ở những bệnh nhân này. Không có kinh nghiệm gì trong điều trị bệnh nhân có hen phế quản cấp tính.
Các thuốc tác dụng giống choline có thể làm tăng tắc hoặc cơn đau quặn đường tiết niệu. Tuy chưa gặp với Exelon nhưng vẫn phải thận trong trong những trường hơp này.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Trong nghiên cứu trên súc vật, rivastigmine không gây quái thai. Tuy nhiên, độ an toàn của Exelon ở phụ nữ có thai chưa đươc xác định và chỉ nên dùng cho phụ nữ có thai sau khi đã cân nhắc giữa lơi ích điều trị cho người mẹ và những nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi.
Lúc nuôi con bú :
Chưa biết đươc là Exelon có thải trừ qua sữa mẹ hay không, do đó bệnh nhân dùng Exelon không nên cho con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Rivastigmine đươc chuyển hóa chủ yếu thông qua thủy phân bởi men xúc tác thủy phân ester (esterases). Phần chuyển hóa phụ xảy ra thông qua các đồng enzym chính của cytochrome P450. Như vậy, không có tương tác dươc động hoc nào xảy ra sau khi dùng các thuốc khác cũng đươc chuyển hóa bằng chính các enzym đó. Không thấy có tương tác dươc động hoc giữa Exelon và digoxine, warfarin, diazepam hoặc fluoxetine trong các nghiên cứu trên đối tương tình nguyện khỏe mạnh. Sự tăng thời gian prothrombin do warfarin gây nên không bị ảnh hưởng do dùng Exelon. Không thấy các tác dụng có hại trên dẫn truyền tim sau khi dùng đồng thời digoxin và Exelon. Trong những bệnh nhân bị bệnh Alzheimer, việc dùng Exelon đồng thời với các thuốc thông thường khác, ví dụ như thuốc chống acid, chống nôn, chống tiểu đường, các thuốc hạ huyết áp tác động trung tâm (thuốc chẹn bêta, thuốc chẹn kênh calci), các thuốc tác động trên trương lực cơ, thuốc chống đau thắt ngực, thuốc kháng viêm không steroid, các estrogen, thuốc giảm đau, các benzodiazepin và các kháng histamine, không đi kèm với thay đổi dươc động hoc của Exelon hoặc tăng nguy cơ tác dụng lâm sàng có hại. Về mặt tác dụng dươc lực, không nên dùng Exelon đồng thời với các thuốc tác dụng giống acetylcholine và nó có thể ngăn trở hoạt tính của trị liệu chống tiết acetylcholine.
Vì là chất ức chế cholinesterase, Exelon có thể làm tăng tác dụng của các thuốc giãn cơ kiểu succinylcholine trong khi gây mê.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Nói chung, các tác dụng đối nghịch thường từ nhẹ đến trung bình và tự hết mà không cần điều trị. Tỷ lệ gặp và mức độ của các tác dụng đối nghịch thường tăng theo việc tăng liều lương.
Bảng dưới đây liệt kê các tác dụng đối nghịch xảy ra trong moi thử nghiệm điều trị pha II và III ở châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Phi, Australia và Nhật Bản, bao gồm moi tác dụng đối nghịch đươc báo cáo với tỷ lệ gặp là 5% hoặc cao hơn, không phụ thuộc vào mối liên quan nhân quả với Exelon.
. Exelon 1-12 mg/ngày (n=3006) % số bệnh nhân Placebo (n=983) % số bệnh nhân
Toàn cơ thể – Các rối loạn chung
Chấn thương ngẫu nhiên 7 7
Mệt mỏi 7 4
Suy nhươc 6 2
Các rối loạn thần kinh trung ương và biên
Chóng mặt 19 10
Đau đầu 15 12
Ngủ gà 5 2
Rối loạn hệ tiêu hóa
Buồn nôn 38 10
Nôn 23 5
Tiêu chảy 15 9
Đau bụng 11 6
Kém ăn 11 3
Khó tiêu 6 4
Các rối loạn tâm thần
Vật vã 8 7
Mất ngủ 8 6
Lẫn lộn 6 6
Trầm cảm 5 4
Rối loạn cơ chế đề kháng
Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên 7 7
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu 5 5
Ngoài ra, tỷ lệ gặp các tác dụng ngoại ý sau đây ở bệnh nhân dùng Exelon cao hơn ít nhất 2% so với ở bệnh nhân dùng placebo : tăng tiết mồ hôi, khó chịu, sụt cân, run. Bệnh nhân phụ nữ tỏ ra dễ bị buồn nôn, nôn, kém ăn và sụt cân hơn.
Vì điều trị bằng Exelon không kèm theo những thay đổi của bất cứ kết quả xét nghiệm labo nào, kể cả các thử nghiệm chức năng gan hoặc điện tim nên không cần theo dõi đặc biệt những số đo đó.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Chống chỉ định dùng Exelon cho những bệnh nhân quá mẫn với rivastigmine, với các dẫn xuất carbamate hoặc với các thành phần khác của thuốc.

Leave a Reply