Diprivan

HÃNG SẢN XUẤT: Astrazeneca Singapor
NHÓM THUỐC: Gây tê, gây mê
THÀNH PHẦN: nhũ dịch tiêm tĩnh mạch và truyền tĩnh mạch 10 mg/ml : lo 50 ml, hộp 1 lo – Bảng A.
THÀNH PHẦN
cho 1 ml
Propofol 10 mg
Tá dươc : dầu nành tinh khiết, phosphatide của trứng đươc tinh khiết hóa, glycérol, sodium hydroxyde, nước cất pha tiêm.
DƯỢC LƯC
Propofol (2,6 disoperopylphenol) là một thuốc gây mê toàn thân tác dụng ngắn với thời gian khởi đầu tác dụng nhanh khoảng 30 giây. Thời gian hồi tỉnh sau gây mê thường là nhanh. Cơ chế tác dụng, giống như moi loại thuốc mê khác, đươc biết rất ít.
Nói chung, tụt huyết áp động mạch trung bình và thay đổi nhẹ nhịp tim khi dùng Diprivan dẫn mê và duy trì mê đươc lưu ý đến. Tuy nhiên, qua ghi nhận bằng máy, đánh giá huyết động hoc thường ở mức tương đối ổn định trong quá trình duy trì mê và các trường hơp có xu hướng thay đổi huyết động hoc thấp.
Mặc dù có thể xuất hiện sự giảm thông khí sau khi dùng Diprivan, nhưng bất kỳ ảnh hưởng có thể xảy ra nào cũng đều tương tự về tính chất như với các loại thuốc mê đường tĩnh mạch khác và đều có thể kiểm soát ổn định trên thực hành lâm sàng.
Diprivan làm giảm lưu lương máu não, áp lực nội so và chuyển hóa ở não. Tỷ lệ giảm áp lực nội so nhiều hơn ở bệnh nhân bị tăng áp lực nội so cơ bản.
Giai đoạn phục hồi tri giác thường nhanh và bệnh nhân cảm thấy nhẹ nhõm, không nhức đầu với rất ít các trường hơp đau đầu và buồn nôn, nôn ói sau phẫu thuật.
Nói chung, dùng Diprivan rất ít bị nôn ói và buồn nôn sau phẫu thuật so với các thuốc mê dùng bay hơi qua đường thở .
Dirprivan ở nồng độ sử dụng trên lâm sàng không ức chế tổng hơp các hormone thương thận adrenocorticoid.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Sự suy giảm nồng độ propofol sau một liều tĩnh mạch hoặc sau khi ngưng truyền có thể đươc mô tả theo mô hình mở 3 ngăn. Giai đoạn đầu đươc đặc trưng bởi sự phân phối rất nhanh (thời gian bán hủy 2-4 phút), sau đó là thải trừ nhanh (thời gian bán hủy 30-60 phút) và giai đoạn cuối cùng chậm hơn, tiêu biểu cho sự tái phân phối propofol từ các mô ít đươc tưới máu.
Propofol đươc phân phối rộng và thải trừ nhanh khỏi cơ thể (tổng thanh thải của cơ thể 1,5-2 lít/phút). Sự thanh thải xảy ra qua các quá trình chuyển hóa, chủ yếu ở gan, để tạo ra các liên hơp không có hoạt tính của propofol và các quinol tương ứng sau đó đươc bài tiết qua nước tiểu.
Khi Diprivan đươc dùng để duy trì tình trạng mê, nồng độ trong máu sẽ tiếp cận các trị số của trạng thái ổn định. Dươc động hoc có tính chất tuyến tính trong giới hạn khuyến cáo về vận tốc truyền của Diprivan.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Diprivan là một thuốc gây mê tĩnh mạch tác dụng ngắn thích hơp cho việc dẫn mê và duy trì mê.
Diprivan cũng có thể đươc dùng để gây ngủ ở bệnh nhân thở máy đang đươc hồi sức.
Diprivan cũng dùng để an thần gây ngủ cho phẫu thuật và thủ thuật chẩn đoán.
CÁCH DÙNG: Thường phải dùng thêm thuốc giảm đau với Diprivan.
Diprivan đã có đươc dùng kết hơp với gây tê tủy sống và gây tê ngoài màng cứng và với các thuốc tiền mê thông dụng, các thuốc chẹn thần kinh cơ, các thuốc gây mê qua đường thở và thuốc giảm đau ; không ghi nhận đươc sự tương k dươc lý nào. Diprivan có thể dùng ở liều thấp trong những trường hơp gây mê đươc dùng như một biện pháp hỗ trơ với kỹ thuật gây tê vùng.
A. Người lớn :
DẪN MÊ
Diprivan có thể dùng cho dẫn mê bằng cách tiêm chậm lặp lại hay truyền tĩnh mạch liên tục.
Ở bệnh nhân không có tiền mê và bệnh nhân đã có tiền mê, nên điều chỉnh Diprivan (khoảng 4 ml (40 mg) mỗi 10 giây ở một người lớn khỏe mạnh, cân nặng trung bình bằng tiêm lặp lại hay truyền liên tục) theo đáp ứng của bệnh nhân cho đến khi bệnh nhân có dấu hiệu bắt đầu mê. Đa số người lớn dưới 55 tuổi cần 2,0-2,5 mg/kg Diprivan. Tổng liều có thể giảm bằng cách giảm tốc độ tiêm truyền (20-50 mg/kg). Trên 55 tuổi, nhu cầu thường ít hơn. Ở bệnh nhân phân độ ASA độ 3 và 4, nên tiêm truyền ở tốc độ thấp hơn (khoảng 20 mg mỗi 10 giây).
DUY TRÌ MÊ
Có thể duy trì mê bằng cách truyền liên tục hoặc tiêm nhiều lần để duy trì độ sâu mê cần thiết.
Truyền liên tục : Vận tốc thay đổi rất nhiều giữa các bệnh nhân nhưng vận tốc trong khoảng từ 4 đến 12 mg/kg/giờ thường duy trì mê tốt.
Tiêm nhiều lần : Nếu dùng kỹ thuật tiêm nhiều lần, có thể tiêm mỗi đơt từ 25 mg (2,5 ml) tới 50 mg (5,0 ml) tùy nhu cầu lâm sàng.
GÂY NGỦ KHI SĂN SÓC TÍCH CƯC
Khi dùng để an thần-gây ngủ ở bệnh nhân thở máy đang hồi sức, nên truyền Diprivan liên tục. Vận tốc truyền phải đươc điều chỉnh theo độ sâu của giấc ngủ cần thiết, tuy nhiên vận tốc truyền trong khoảng 0,3 đến 4,0 mg/kg/giờ thường cho kết quả tốt.
AN THẦN GÂY NGỦ CHO PHẪU THUẬT VÀ THỦ THUẬT CHẨN ĐOÁN
Để an thần gây ngủ cho phẫu thuật và thủ thuật chẩn đoán, liều và tốc độ dùng nên đươc điều chỉnh cho từng cá nhân tùy theo đáp ứng lâm sàng.
Phần lớn bệnh nhân cần dùng liều 0,5-1 mg/kg qua thời gian 1-5 phút để khởi đầu cho an thần gây ngủ.
Duy trì an thần gây ngủ có thể cũng điều chỉnh liều tiêm truyền Diprivan đến mức cần thiết trên lâm sàng, phần lớn bệnh nhân ở mức 1,5-4,5 mg/kg/giờ. Cùng với truyền tĩnh mạch, việc dùng thuốc kiểu bồi hoàn lặp lại 10-20 mg mỗi lần có thể đươc dùng để tăng nhanh độ sâu của mê khi thấy cần thiết. Ở bệnh nhân có phân độ ASA độ 3 và 4, phải giảm tốc độ tiêm truyền và liều lương.
B. Người lớn tuổi :
Diprivan phải đươc điều chỉnh liều theo đáp ứng của bệnh nhân.
Bệnh nhân trên 55 tuổi có thể cần liều Diprivan thấp hơn để dẫn mê.
C. Trẻ em :
DẪN MÊ
Diprivan không nên dùng ở trẻ em dưới 3 tuổi.
Khi dùng để dẫn mê ở trẻ em, Diprivan phải đươc cho chậm cho đến lúc có dấu hiệu lâm sàng của tình trạng bắt đầu mê. Phải điều chỉnh liều lương theo tuổi và/hoặc cân nặng. Đa số bệnh nhi trên 8 tuổi có thể cần khoảng 2,5 mg/kg Diprivan để dẫn mê. Bệnh nhi dưới 8 tuổi có thể cần liều lương nhiều hơn. Nên dùng liều thấp hơn đối với bệnh nhi độ 3 và 4 theo ASA.
DUY TRÌ MÊ
Không nên dùng Diprivan ở trẻ em dưới 3 tuổi.
Có thể dùng Diprivan duy trì mê bằng cách truyền liên tục hoặc tiêm nhắc lại nhiều lần để duy trì mức độ mê sâu cần thiết. Lương thuốc cần thiết thay đổi rất nhiều giữa các bệnh nhân nhưng liều lương trong khoảng 9-15 mg/kg/giờ thường đạt đươc yêu cầu kết quả gây mê tốt.
AN THẦN GÂY NGỦ TRONG PHẪU THUẬT VÀ THỦ THUẬT CHẨN ĐOÁN
Không nên dùng Diprivan cho trẻ em trong chỉ định này vì tính an toàn và hiệu quả chưa đươc xác lập.
GÂY NGỦ TRONG HỒI SỨC
Không nên dùng Diprivan để gây ngủ ở trẻ em vì hiệu quả và độ an toàn chưa đươc chứng minh. Mặc dù chưa xác lập đươc mối liên quan hệ quả, đã có bác cáo tự phát về một vài trường hơp tai biến nặng (kể cả tử vong) do sử dụng thuốc không đươc cho phép. Đa số các trường hơp này xảy ra ở trẻ em bị nhiễm trùng đường thở đã bị gây mê với liều vươt quá liều cho phép dùng cho người lớn.
D. Cách dùng :
Diprivan có thể đươc truyền tĩnh mạch nguyên chất qua ống tiêm nhựa hoặc các chai dịch truyền. Khi Diprivan đươc dùng nguyên chất để duy trì mê, nên dùng các thiết bị như ống bơm tiêm điện hoặc bơm truyền theo thể tích để kiểm soát vận tốc truyền.
Diprivan cũng có thể đươc dùng pha loãng duy nhất với loại dịch truyền tĩnh mạch Dextrose 5% đựng trong các bịch nhựa PVC hoặc chai thủy tinh. Việc pha loãng, không quá 1 phần 5 (2 mg propofol/ml), phải đươc thực hiện trong điều kiện vô trùng ngay trước khi truyền. Hỗn hơp có tính ổn định tới 6 giờ.
Thuốc pha loãng có thể đươc dùng với một số kỹ thuật kiểm soát, nhưng một phương cách kiểm soát đơn độc sẽ không tránh đươc nguy cơ tai biến truyền quá nhiều Diprivan pha loãng. Phải thêm vào đường truyền 1 bầu chứa, máy đếm giot hoặc máy đo thể tích. Phải lưu ý đến nguy cơ truyền không kiểm soát đươc khi quyết định thể tích tối đa thuốc đã pha loãng trong bầu chứa.
Diprivan có thể đươc tiêm truyền qua một nhánh hình chữ Y ngã ba gần vùng tiêm, vào trong dịch truyền Dextrose 5%, Sodium Chloride 0,9% hay Dextrose 4% với Sodium Chloride 0,18%.
Diprivan có thể trộn trước với alfentanil dạng tiêm chứa 500 mg/ml alfentanil (Rapifen; Janssen Pharmaceuticals Ltd.) với tỷ lệ 20:1đến 50:1v/v. Hỗn hơp thuốc nên đươc chuẩn bị bằng kỹ thuật vô trùng và sử dụng trong vòng 6 giờ.
Để giảm đau lúc khởi đầu tiêm, phần Diprivan 1% dùng để dẫn mê có thể đươc pha thêm với lignocaine dạng tiêm trong một ống tiêm nhựa với tỷ lệ 20 phần Diprivan với một phần hoặc là 0,5% hoặc là 1% lignocaine dạng tiêm ngay trước khi sử dụng.
PHA LOÃNG VÀ DÙNG KÈM VỚI CÁC THUỐC KHÁC HAY VỚI DỊCH TRUYỀN
(Xem thêm phần Thận trong lúc dùng)
Kỹ thuật dùng chung Thuốc hoặc dịch pha đươc sử dụng Chuẩn bị Thận trong
Pha trộn trước Dextrose 5% để truyền tĩnh mạch Pha 1 phần Diprivan với tối đa 4 phần Dextrose 5% để truyền tĩnh mạch trong túi PVC hoặc chai thủy tinh. Khi pha trong túi PVC nên dùng túi nguyên và rút bỏ trước một thể tích tương ứng với thể tích Diprivan sẽ bơm vào. Pha trộn trong điều kiện vô trùng ngay trước khi truyền.
. . Hỗn hơp ổn định tối đa 6 giờ.
. Lignocaine hydrochloride dạng tiêm (0,5% hoặc 1% không có chất bảo quản) Pha 20 phần Diprivan với tối đa 1 phần lignocaine hydrochloride 0,5% hoặc 1% Pha trộn trong điều kiện vô trùng ngay trước khi dùng.
. . Chỉ dùng để dẫn mê.
. Alfentanil dạng tiêm (500 mg/ml) Pha trộn Diprivan với alfentanil dạng tiêm theo tỷ lệ 20:1 đến 50:1 v/v Pha trộn trong điều kiện vô trùng trước khi dùng; sử dụng trong vòng 6 giờ
Cho cùng lúc qua ống nối hình chữ Y Dextrose 5% để truyền tĩnh mạch Cho cùng lúc qua ống nối hình chữ Y như trên Đặt ống nối hình chữ Y gần chỗ tiêm.
NaCl 0,9% để truyền tĩnh mạch Như trên Như trên
Dextrose 4% với NaCl 0,18% để truyền tĩnh mạch. Như trên Như trên
Tính tương k :
Không đươc pha trộn Diprivan trước với các thuốc tiêm hay dịch truyền tĩnh mạch, ngoài dịch truyền Dextrose 5% trong các túi PVC hay chai dịch truyền, hoặc lignocaine dạng tiêm hay alfentanil tiêm trong xy-lanh.
Các thuốc ức chế thần kinh cơ như atracurium và mivacurium không đươc cho qua cùng đường truyền tĩnh mạch với Diprivan.
QUÁ LIỀU
Quá liều do tai biến có thể gây ức chế hô hấp và tuần hoàn. Tình trạng ức chế hô hấp phải đươc điều trị bằng thở máy với ôxy ; điều trị tình trạng ức chế tim mạch bằng cách cho bệnh nhân nằm đầu thấp, và trong trường hơp nặng, bằng truyền dịch và các thuốc vận mạch.
BẢO QUẢN
Diprivan phải đươc bảo quản ở nhiệt độ từ 2°C tới 25°C. Không đươc đông lạnh.
Lắc kỹ trước khi dùng. Moi phần thừa còn lại sau khi dùng phải đươc bỏ đi .
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Diprivan phải đươc sử dụng bởi những chuyên viên đã đươc huấn luyện về gây mê (hoặc ở nơi thích hơp, bởi các bác sĩ đã đươc huấn luyện về chăm sóc bệnh nhân ở khoa hồi sức). Bệnh nhân nên đươc theo dõi liên tục kỹ lưỡng và nên có sẵn các phương tiện để duy trì thông đường thở, thở máy và oxy và các thiết bị hỗ trơ khác trong moi lúc. Nhân viên tham gia thủ thuật chẩn đoán hay phẫu thuật không sử dụng Diprivan.
Cần lưu bệnh nhân trong một khoảng thời gian thích hơp trước khi chuyển đi để bảo đảm bệnh nhân đã hoàn toàn hồi phục sau gây mê.
Như với moi loại thuốc gây mê khác, phải thận trong khi dùng ở bệnh nhân có bệnh tim, phổi, thận, gan, giảm thể tích nội mạch hoặc suy kiệt.
Diprivan không có hoạt tính kháng đối giao cảm và đã có các báo cáo về tình trạng nhịp tim chậm (đôi khi rất nặng) và mất nhịp thất. Nên xem xét đến việc dùng một thuốc kháng đối giao cảm anticholinergic trước dẫn mê hoặc lúc duy trì mê, nhất là khi trương lực đối giao cảm có nhiều khả năng chiếm ưu thế hoặc khi Diprivan đươc dùng kèm với các thuốc có nhiều khả năng gây nhịp tim chậm.
Khi dùng Diprivan ở bệnh nhân động kinh, có thể có nguy cơ co giật.
Phải săn sóc thích hơp bệnh nhân có rối loạn chuyển hóa mỡ và các bệnh trạng khác trong đó nhũ tương lipid phải đươc sử dụng một cách thận trong.
Nên theo dõi nồng độ lipid máu khi dùng Diprivan ở bệnh nhân đươc cho là có nguy cơ quá tải chất béo. Phải chỉnh liều Diprivan cho thích hơp nếu theo dõi cho thấy mỡ không đươc thanh loc khỏi cơ thể một cách thỏa đáng. Nếu bệnh nhân đang đươc truyền tĩnh mạch một dung dịch lipid khác đồng thời, nên giảm liều dung dịch này để bù trừ cho lương lipid sẽ đươc truyền nằm trong công thức bào chế Diprivan ; 1,0 ml Diprivan chứa khoảng 0,1 g chất béo.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Diprivan không chứa các chất bảo quản chống vi khuẩn và hỗ trơ sự phát triển của vi sinh vật. Khi bơm rút Diprivan, phải lấy ra một cách vô trùng vào một ống tiêm vô trùng hoặc bộ dụng cụ truyền ngay sau khi mở nắp lo hoặc ống. Phải dùng ngay lập tức, không chậm trễ. Sự vô trùng phải đươc duy trì cho cả Diprivan lẫn bộ dụng cụ để truyền trong suốt quá trình. Moi loại thuốc hoặc dịch truyền thêm vào đường dây Diprivan phải đươc tiến hành gần chỗ đâm kim vào da. Không nên truyền Diprivan qua màng loc vi sinh.
Diprivan và tất cả ống tiêm chứa Diprivan đươc dùng một lần duy nhất trên một bệnh nhân. Cũng như các hướng dẫn trong việc truyền các nhũ tương lipid khác, một lần truyền Diprivan không nên vươt quá 12 giờ. Sau khi truyền xong hoặc hết hạn 12 giờ, tùy theo thứ tự xảy ra sự kiện nào trước, cả dịch chứa Diprivan lẫn đường truyền phải bị hủy bỏ và thực hiện thay thế thích hơp.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc :
Phải thông báo cho bệnh nhân biết là các công việc đòi hỏi kỹ năng như lái xe hoặc vận hành máy móc có thể bị rối loạn một thời gian sau khi gây mê.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Thai kỳ :
Không nên dùng Diprivan trong thai kỳ. Tuy nhiên cũng có trường hơp sử dụng Diprivan trong việc chấm dứt thai kỳ trong 3 tháng đầu.
Sản khoa :
Diprivan xuyên thấm qua nhau và có thể liên quan với sự suy yếu của trẻ sơ sinh. Không nên dùng Diprivan để gây mê trong sản khoa.
Giai đoạn cho con bú :
Khi theo dõi việc dùng Diprivan ở phụ nữ cho con bú, sự an toàn của trẻ sơ sinh chưa đươc xác định.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Diprivan đã đươc dùng kết hơp với gây tê tủy sống và gây tê ngoài màng cứng với các thuốc tiền mê thông dụng, các thuốc chẹn thần kinh cơ, các thuốc gây mê qua đường thở và thuốc giảm đau ; không ghi nhận đươc sự tương k dươc lý nào. Diprivan có thể dùng ở liều thấp trong trường hơp gây mê đươc dùng như một biện pháp hỗ trơ với kỹ thuật gây tê vùng.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Toàn thân :
Dẫn mê thường trôi chảy với ít biểu hiện kích thích. Trong giai đoạn dẫn mê, tụt huyết áp hoặc ngưng thở thoáng qua có thể xảy ra tùy liều lương và thuốc tiền mê sử dụng và các tác nhân khác.
Đôi khi, có thể tụt huyết áp tới mức phải dùng dịch truyền và giảm vận tốc truyền Diprivan trong suốt giai đoạn duy trì mê.
Trong giai đoạn hồi phục, buồn nôn, nôn và nhức đầu chỉ xảy ra với một số ít bệnh nhân.
Các cử động dạng động kinh, bao gồm co giật và ưỡn cong người đã đươc ghi nhận một cách hãn hữu trong các giai đoạn dẫn mê, duy trì và hồi phục.
Hiếm khi có các đặc điểm lâm sàng của phản vệ, bao gồm co thắt phế quản, hồng ban và tụt huyết áp xảy ra sau khi dùng Diprivan.
Phù phổi cũng đươc ghi nhận trong một vài trường hơp tuy hiếm gặp, cũng đã có những báo cáo về sốt sau mổ.
Cũng như các thuốc gây mê khác, sự giải ức chế về tình dục có thể xảy ra.
Hiếm khi ghi nhận đươc sự đổi màu của nước tiểu sau khi dùng Diprivan lâu dài.
Tại chỗ :
Đau tại chỗ, có thể xảy ra trong giai đoạn dẫn mê, có thể đươc hạn chế bằng cách tiêm vào những tĩnh mạch lớn của mặt trước cẳng tay và tĩnh mạch hố trước xương trụ. Đau tại chỗ do dùng Diprivan cũng giảm bớt bằng cách dùng kèm lignocaine (xem Liều Lương Và Cách Sử Dụng). Hiếm gặp huyết tắc và viêm tĩnh mạch. Tai biến thoát mạch trên lâm sàng và các thử nghiệm trên súc vật cho thấy ít có phản ứng mô. Ở thú, tiêm vào động mạch không gây ra các tác dụng trên mô tại chỗ.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Chống chỉ định sử dụng Diprivan ở bệnh nhân đã biết có dị ứng với propofol.

Leave a Reply