Coartem

HÃNG SẢN XUẤT: Novartis
NHÓM THUỐC: Kháng KSTSR
THÀNH PHẦN: viên bao : hộp 16 viên.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Artemether 20 mg
Lumefantrine 120 mg
Tá dươc : Polysorbate 80, hydroxypropylmethyl cellulose, cellulose dạng vi tinh thể, silicon dioxide dạng keo, croscarmelose sodium và magnesium stearate.
DƯỢC LƯC
Coartem là một thuốc trong đó có phối hơp artemether và lumefantrine với tỷ lệ cố định là 1 : 6. Vị trí tác động chống lại ký sinh trùng của cả hai thành phần là không bào thức ăn của ký sinh trùng bệnh sốt rét, tại đây chúng đươc xem là có liên quan đến sự chuyển đổi Haem, một chất trung gian có độc tính đươc sản xuất ra trong quá trình phá vỡ Haemoglobin thành Haemozoin, một sắc tố sốt rét không độc. Lumefantrine đươc cho là có liên quan đến quá trình polymer hóa, trong khi artemether làm sinh ra các chất chuyển hóa phản ứng do sự tương tác giữa cầu nối peroxide của nó và chất sắt trong Haem. Cả artemether và lumefantrine đều có tác động thứ hai là ức chế sự tổng hơp acid nucleic và protein bên trong ký sinh trùng sốt rét. Số liệu từ các nghiên cứu in vitro và in vivo cho thấy rằng Coartem không bị đề kháng.
Tác động chống sốt rét riêng biệt của cả lumefantrine và artemether đều đươc gia tăng khi đươc phối hơp lại trong Coartem, điều này đã đươc chứng minh qua việc làm tăng khả năng tiêu diệt thể liệt sinh trong máu. Thuốc cũng có hiệu quả trên các chủng P. falciparum đã kháng thuốc. Các nghiên cứu toàn diện in vitro sử dụng các mẫu vi khuẩn cô lập đươc giữ trong phòng thí nghiệm và mẫu tươi từ các vùng có dịch sốt rét khác nhau đã chứng minh tính hiệp đồng tác dụng đáng kể của hai thành phần này.
Kết quả từ các thử nghiệm so sánh trên lâm sàng đã chứng tỏ rằng Coartem loại bỏ tế bào giao tử nhanh chóng hơn so với các thuốc chống sốt rét không phải là artemisinin.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Đặc tính dươc động của Coartem bị giới hạn do thiếu dạng tiêm tĩnh mạch, và do đặc tính thay đổi rất khác nhau giữa các đối tương và trong cơ thể từng người của nồng độ artemether và lumefantrine và các thông số dươc động khác (diện tích dưới đường cong, nồng độ tối đa).
Hấp thu :
Arthemether đươc hấp thu tương đối nhanh với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt đươc 2 giờ sau khi uống thuốc. Sự hấp thu lumefantrine, một hơp chất thân lipid cao, bắt đầu trễ hơn sau đó 2 giờ với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt đươc 6-8 giờ sau khi uống thuốc. Thức ăn thúc đẩy sự hấp thu của cả artemether và lumefantrine : ở người tình nguyện khỏe mạnh, uống Coartem sau một bữa ăn giàu chất béo, sinh khả dụng tương đối của artemether gia tăng gấp hai lần và sinh khả dụng tương đối của lumefantrine tăng gấp mười sáu lần so với uống thuốc lúc đói. Người ta cũng đã chứng minh đươc rằng thức ăn cũng làm gia tăng sự hấp thu lumefantrine ở những bệnh nhân bị sốt rét mặc dù với một mức độ thấp hơn (khoảng hai lần), có lẽ là do thành phần chất béo thấp hơn của thức ăn đươc tiêu hóa do các bệnh nhân bị bệnh cấp tính. Các số liệu về tương tác với thức ăn chỉ ra rằng sự hấp thu của lumefantrine trong tình trạng bụng đói là rất kém (nếu cho sự hấp thu sau một bữa ăn giàu chất béo là 100%, lương hấp thu trong tình trạng đói thấp hơn 10% liều sử dụng). Do đó, nên khuyến khích bệnh nhân dùng thuốc cùng với chế độ dinh dưỡng bình thường ngay khi có thể ăn uống đươc.
Phân bố :
In vitro artemether và lumefantrine đều gắn kết chặt chẽ với protein huyết thanh người (lần lươt với tỷ lệ 97,9% và 99,9%). Tỷ lệ gắn kết tương tự cũng đã đươc tìm thấy trên thú vật.
Chưa có khảo sát kỹ lưỡng hơn về sự phân bố ở người, nhưng ở chuột cống artemether đươc phân bố tốt trong toàn bộ cơ thể và có ái lực nhất định với mô chất béo nâu và tuyến thương thận, trong khi lumefantrine có ái lực với mô mỡ, mô tuyến và có ái lực ở một vài mức độ với phổi, lách (do đào thải chậm từ mô dạng bạch huyết) và tủy xương.
Chuyển hóa :
Artemether đươc chuyển hóa nhanh chóng và rộng rãi (chuyển hóa nhiều khi qua gan lần đầu) in vitro và cả ở người. Các microsome gan người chuyển hóa artemether thành chất chuyển hóa có hoạt tính sinh hoc là dihydroartemisinin (do sự demethyl hóa), chủ yếu do enzyme CYP3A4/5. Chất chuyển hóa này cũng đã đươc tìm thấy ở người in vivo. Lumefantrine đươc N-debutyl hóa, chủ yếu bởi CYP3A4 tại microsome người. In vivo ở thú vật (chó và chuột cống), sự liên hơp glucuro của lumefantrine xảy ra trực tiếp sau sinh chuyển hóa oxy hóa. In vitro lumefantrine ức chế đáng kể hoạt tính của CYP2D6 ở nồng độ trị liệu trong huyết tương.
Đào thải :
Artemether đươc nhanh chóng đào thải khỏi huyết tương với thời gian bán hủy đào thải khoảng 2 giờ. Lumefantrine đươc đào thải rất chậm với thời gian bán hủy cuối cùng là 2-3 ngày ở người tình nguyện khỏe mạnh và 4-6 ngày ở những bệnh nhân bị sốt rét do falcifarum.
Các đặc điểm về nhân khẩu hoc như giới tính và trong lương cho thấy không có ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng trên dươc động hoc của Coartem.
Không có số liệu về sự đào thải qua nước tiểu ở người. Ở chuột cống và chó không tìm thấy artemether dưới dạng không đổi trong phân và nước tiểu do chất này đươc chuyển hóa nhanh chóng và mạnh khi qua gan lần đầu nhưng một vài chất chuyển hóa (không đươc nhận diện) đã đươc tìm thấy trong phân và cả nước tiểu. Lumefantrine đươc đào thải qua mật ở chuột cống và chó, sau đó đươc đào thải chủ yếu qua phân. Sau khi cho uống ở chuột và chó, chất chuyển hóa đươc định lương và định tính tìm thấy trong mật và phân tương đối thấp, hầu hết liều uống vào đươc tìm thấy dưới dạng thuốc ban đầu không bị chuyển hóa.
AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Tính đột biến :
Không tìm thấy bằng chứng về tính đột biến của Coartem trong các xét nghiệm in vitro và in vivo. Trong xét nghiệm vi nhân, đã quan sát đươc độc tính trên tủy với tất cả các mức liều (500, 1000 và 2000 mg/kg) nhưng phục hồi hầu như hoàn toàn 48 giờ sau khi dùng thuốc.
Tính sinh ung thư :
Các nghiên cứu về tính sinh ung thư với Coartem chưa đươc thực hiện.
Các nghiên cứu về độc tính trong sinh sản :
Các nghiên cứu về độc tính trong sinh sản với Coartem ở chuột cống đã cho thấy ảnh hưởng độc trên cả mẹ và phôi với liều ³ 100 mg/kg nhưng không có bằng chứng về tính sinh quái thai với moi mức liều. Các ảnh hưởng này cũng đã đươc quan sát thấy với liều > 60 mg/kg trong một nghiên cứu sau đó ở chuột cống.
Ở thỏ, độc tính trên thỏ mẹ và phôi đươc quan sát ở mức liều 175 mg/kg nhưng không có độc tính trên thai và quái thai, trong khi mức liều thấp hơn kế tiếp là 105 mg/kg hoàn toàn không có ảnh hưởng nào do điều trị.
Các liều lumefantrine cao khoảng 1000 mg/kg cho thấy không có bằng chứng gơi ý cho độc tính trên thú mẹ, phôi hay thai hay có sinh quái thai ở chuột cống và thỏ.
Artemether cũng cho thấy không có ảnh hưởng nào trên thỏ với liều cho đến 25 mg/kg, nhưng với liều 30 mg/kg đã quan sát đươc độc tính trên thú mẹ, phôi và thai. Tuy nhiên, ở chuột cống, độc tính trên thú mẹ, phôi và thai đều đã đươc ghi nhận với liều 10 mg/kg nhưng không có bằng chứng nào về tính sinh quái thai với moi mức liều.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Coartem là một kết hơp cố định artemether và lumefantrine tác động như một chất diệt thể liệt sinh trong máu. Thuốc đươc chỉ định trong :
Điều trị : bao gồm điều trị dự phòng tức thời cho trẻ em và người lớn bị nhiễm hay đa nhiễm trong đó có Plasmodium falcifarum. Do Coartem có hiệu quả trên cả Plasmodium falcifarum nhạy cảm lẫn đề kháng thuốc, thuốc này cũng đươc khuyến cáo trong bệnh sốt rét nhiễm tại các vùng mà ký sinh trùng này có thể đã đề kháng với các thuốc chống sốt rét khác.
Điều trị dự phòng tức thời : Hầu hết khách du lịch hay người đi công tác đươc xem là không đươc miễn nhiễm, có thể cần phải điều trị ngay lập tức nếu nghi là bị sốt rét. Tuy nhiên, một số ít người có nguy cơ lại không thể đươc điều trị trong 24 giờ khởi phát triệu chứng, đặc biệt khi ho ở trong vùng hẻo lánh xa các trung tâm y tế. Trong những trường hơp như vậy, các bác sĩ nên khuyên những người đó mang theo khi đi du lịch để dùng khi cần (“điều trị dự phòng tức thời”).
CÁCH DÙNG: Bệnh nhân sốt rét cấp tính thường không muốn ăn. Có thể dùng thuốc cùng với thức uống. Nên khuyến khích bệnh nhân ăn lại bình thường ngay khi có thể dùng thức ăn do điều này có thể làm cải thiện sự hấp thu artemether và lumefantrine.
Khi bị nôn mửa trong vòng 1 giờ sau khi uống thuốc, nên dùng lại một liều khác.
Liều lương cho người lớn
Điều trị :
Dùng một liều đơn gồm bốn viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán, và tiếp tục 8, 24 và 48 giờ sau đó (tổng liều bao gồm 16 viên nén).
Điều trị tại vùng đa đề kháng thuốc và bệnh nhân không có miễn dịch :
Ở các vùng có sốt rét đa kháng thuốc (như Thái lan) và ở bệnh nhân không có miễn dịch, nên áp dụng một đơt điều trị tập trung ba ngày, với liều đơn gồm bốn viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán, và tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày trong hai ngày sau đó (tổng liều bao gồm 24 viên).
Điều trị dự phòng tức thời :
Đối với điều trị dự phòng tức thời, nên áp dụng một đơt điều trị tập trung ba ngày với liều đơn gồm bốn viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán, và tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày trong hai ngày sau đó (tổng liều bao gồm 24 viên).
Liều lương cho trẻ em
Điều trị
5 – < 15 kg thể trong : Một viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán bệnh, và tiếp tục dùng liều này 8, 24 và 48 giờ sau đó (tổng liều gồm 4 viên nén).
15 – < 25 kg thể trong : Liều đơn gồm hai viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán bệnh, và tiếp tục dùng liều này 8, 24 và 48 giờ sau đó (tổng liều gồm 8 viên nén).
25 – < 35 kg thể trong : Liều đơn gồm ba viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán bệnh, và tiếp tục dùng liều này 8, 24 và 48 giờ sau đó (tổng liều gồm 12 viên nén).
Điều trị tại vùng đa đề kháng thuốc và trẻ không có miễn dịch :
Ở các vùng có sốt rét đa kháng thuốc (như Thái lan) và ở trẻ em không có miễn dịch, nên áp dụng một đơt điều trị tập trung ba ngày, với liều đơn gồm một đến ba viên nén (tùy theo thể trong) vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán, và tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày trong hai ngày sau đó (tổng liều bao gồm 6, 12 hay 18 viên tùy theo thể trong).
5 – < 15 kg thể trong : Một viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán bệnh, tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày vào hai ngày sau đó (tổng liều gồm 6 viên nén).
15 – < 25 kg thể trong : Liều đơn gồm hai viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán bệnh, và tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày vào hai ngày sau đó (tổng liều gồm 12 viên nén).
25 – < 35 kg thể trong : Liều đơn gồm ba viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán bệnh, và tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày vào hai ngày sau đó (tổng liều gồm 18 viên nén).
Điều trị dự phòng tức thời :
Đối với điều trị dự phòng tức thời, nên áp dụng một đơt điều trị tập trung ba ngày với liều đơn gồm từ một đến ba viên nén (tùy theo thể trong) vào thời điểm khởi phát triệu chứng, và tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày trong hai ngày sau đó (tổng liều bao gồm 6, 12 hay 18 viên tùy theo thể trong).
5 – < 15 kg thể trong : Một viên nén vào thời điểm khởi phát triệu chứng, và tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày vào hai ngày sau đó (tổng liều gồm 6 viên nén).
15 – < 25 kg thể trong : Liều đơn gồm hai viên nén vào thời điểm khởi phát triệu chứng, và tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày vào hai ngày sau đó (tổng liều gồm 12 viên nén).
25 – < 35 kg thể trong : Liều đơn gồm ba viên nén vào thời điểm bắt đầu chẩn đoán bệnh, và tiếp tục dùng liều này 8 giờ và hai lần mỗi ngày vào hai ngày sau đó (tổng liều gồm 18 viên nén).
Liều lương dành cho người lớn tuổi :
Mặc dù chưa có nghiên cứu đươc thực hiện ở người lớn tuổi, không có thận trong đặc biệt cũng như điều chỉnh liều lương nào đươc cho là cần thiết ở các đối tương này.
Liều lương cho bệnh nhân suy thận hay suy gan :
Mặc dù chưa có nghiên cứu chuyên biệt đươc thực hiện, không có thận trong đặc biệt cũng như điều chỉnh liều lương nào đươc cho là cần thiết ở các đối tương này. Hầu hết các bệnh nhân bị sốt rét cấp tính thể hiện ở một vài mức độ suy gan đi kèm. Đặc tính về tác dụng ngoại ý ở những bệnh nhân này không thay đổi so với những bệnh nhân không bị suy gan. Hơn nữa, ranh giới các bất thường xét nghiệm chức năng gan đã cải thiện trong hầu hết các bệnh nhân sau khi dùng Coartem.
Nhiễm bệnh lần đầu và tái nhiễm ở người lớn và trẻ em :
Các số liệu từ một số giới hạn bệnh nhân cho thấy việc nhiễm bệnh lần đầu và tái nhiễm có thể đươc điều trị bằng một đơt Coartem thứ nhì. Các nghiên cứu in vitro về các mẫu bệnh nhân bị tái nhiễm cho thấy không có sự suy giảm đáng kể trên tính nhạy cảm của P. falciparum với cả artemether và lumefantrine.
QUÁ LIỀU
Trong trường hơp nghi ngờ có quá liều, nên áp dụng những biện pháp điều trị triệu chứng và hỗ trơ thích hơp.
BẢO QUẢN
Bảo quản dưới 30°C.
Giữ thuốc tránh xa tầm tay trẻ em.
Không đươc dùng thuốc đã quá hạn dùng ghi trên nhãn.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Chưa có khảo sát tác dụng của Coartem trong điều trị sốt rét não hay các biểu hiện trầm trong của biến chứng sốt rét bao gồm phù phổi hay suy thận.
Người ta biết rằng một vài thuốc chống sốt rét có thể gây kéo dài đoạn QTc và đã quan sát đươc sự kéo dài nhẹ đoạn QTc không có triệu chứng lâm sàng trên một vài bệnh nhân đươc điều trị với Coartem, chủ yếu trong những trường hơp đồng thời có mất nước hay mất cân bằng chất điện giải. Không tìm thấy có mối tương quan nào giữa sự kéo dài đoạn QTc và nồng độ đỉnh trong huyết tương ở bệnh nhân. Nên theo dõi các bệnh nhân không chịu ăn trong quá trình điều trị do có thể có nguy cơ tái nhiễm cao hơn.
Ảnh hưởng lúc lái xe và thao tác máy móc :
Bệnh nhân đang dùng Coartem nên đươc lưu ý rằng có thể bị chóng mặt hay mệt mỏi / suy nhươc, trong những trường hơp này không nên lái xe hay sử dụng máy móc.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Chưa có nghiên cứu về tương tác thuốc đặc hiệu nào đươc thực hiện với Coartem. Tuy nhiên không có vấn đề an toàn nào có thể quy cho tương tác thuốc phát sinh từ các nghiên cứu lâm sàng với Coartem trong đó hầu hết các bệnh nhân dùng thuốc hạ sốt, kháng sinh và đươc bổ sung nước và chất điện giải.
Các nghiên cứu in vitro với artemether ở nồng độ điều trị không cho thấy tương tác đáng kể nào với các enzyme cytochrome P450.
Lumefantrine đươc tìm thấy có tính ức chế CYP2D6 in vitro. Điều nào có thể có liên quan trên lâm sàng cho những hơp chất có chỉ số điều trị nhỏ đã đươc biết là bị chuyển hóa do các emzyme này (như các thuốc an thần và các thuốc chống trầm cảm tricyclic).
Khả năng xảy ra tác dụng ngoại ý trên tính an toàn và hiệu quả của Coartem do tương tác giữa các thuốc là rất nhỏ xét về mặt thời gian dùng thuốc ngắn và chỉ số điều trị lớn.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Chưa xác định đươc tính an toàn của artemether và lumefantrine lúc có thai.
Các nghiên cứu độc tính trong sự sinh sản ở chuột cống và thỏ không cho thấy bằng chứng sinh quái thai nào trong sự kết hơp cũng như từng thành phần của thuốc là lumefantrine và artemether.
Mặc dù artemisin đươc biết là có tính chất gây độc với phôi ở thú vật, Coartem không gây độc phôi ở chuột cống với liều £25 mg/kg. Tuy nhiên, artemether dùng riêng lẻ không cho thấy có độc tính trên mẹ, phôi và thai với liều 10 mg/kg ở chuột cống và 30 mg/kg ở thỏ.
Chỉ nên xem xét dùng Coartem khi lơi ích mong đơi cho người mẹ cao hơn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi.
Lúc nuôi con bú :
Không có số liệu về sự tiết qua sữa mẹ của cả hai thành phần thuốc.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Tỷ lệ tác dụng ngoại ý đươc báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng của Coartem trong điều trị sốt rét nói chung cũng tương tự hay thấp hơn các thuốc chống sốt rét khác đươc sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng. Nhiều tác dụng ngoại ý quan sát đươc trong quá trình thử nghiệm lâm sàng là do căn bệnh hơn là do Coartem, mặc dù một vài triệu chứng bệnh lý sốt rét cấp tính thông thường có thể xảy ra hay làm nặng hơn do sự có mặt của thuốc này.
Tác dụng ngoại ý thường gặp nhất (³ 1%) đươc nghi ngờ là do Coartem xảy ra ở những bệnh nhân đươc điều trị thuốc này là :
Hệ thần kinh trung ương : rối loạn giấc ngủ, nhức đầu, chóng mặt.
Hệ tim mạch : đánh trống ngực.
Đường tiêu hóa : đau bụng, chán ăn, tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa.
Da và phụ bộ : ngứa ngáy, nổi ban.
Đường hô hấp : ho.
Hệ cơ xương : đau khớp, đau cơ.
Các tác dụng ngoại ý khác :
Suy nhươc, mệt mỏi.
Coartem không làm ảnh hưởng đến những thông số huyết hoc hay hóa hoc lâm sàng.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Quá mẫn cảm với hoạt chất chính hay bất cứ thành phần nào của thuốc

Leave a Reply