Azopt

HÃNG SẢN XUẤT: Alcon Pharmaceutical
NHÓM THUỐC: Mắt
THÀNH PHẦN: huyền dịch nhỏ mắt 1% : lo 5 ml
THÀNH PHẦN
cho 1 ml
Brinzolamide 10 mg
Chất bảo quản : Benzalkonium chloride.
Tá dươc : mannitol, carbomer 947P, tyloxapol, edetate sodium, sodium chloride, hydrochloric acid và/hay sodium hydroxide (để điều chỉnh pH) và nước cất.
MÔ TẢ
Azopt (huyền dịch nhỏ mắt brinzolamide) 1% chứa một chất ức chế carbonic anhydrase đươc bào chế dưới dạng thuốc nhỏ mắt đa liều.
Azopt 1% đươc cung cấp dưới dạng huyền dịch lỏng vô trùng đã đươc bào chế dưới dạng huyền dịch và lắng đong chậm sau khi lắc. Thuốc có pH khoảng 7,5 và áp suất thẩm thấu 300 mOs/kg.
DƯỢC LÝ LÂM SÀNG
Carbonic anhydrase (CA) là một enzyme đươc tìm thấy trong nhiều mô của cơ thể trong đó có mắt. Nó xúc tác một phản ứng hai chiều liên quan đến sự hydrate hóa carbon dioxide và dehydrate hóa carbonic acid. Ở người, carbonic anhydrase tồn tại dưới một số dạng isoenzyme, chất có hoạt tính mạnh nhất là carbonic anhydase II (CA-II), đươc tìm thấy chủ yếu trong hồng cầu nhưng cũng có ở những mô khác. Sự ức chế carbonic anhydrase trong thể mi của mắt làm giảm tiết thủy dịch, chủ yếu do làm chậm sự sản xuất ion bicarbonate với việc làm giảm vận chuyển sodium và dịch. Kết quả là làm hạ nhãn áp.
Azopt 1% chứa brinzolamide, một chất ức chế carbonic anhydrase II (CA-II). Sau khi nhỏ mắt, brinzolamide ức chế sự hình thành thủy dịch và làm giảm áp suất nội nhãn. Tăng áp suất nội nhãn là một yếu tố nguy cơ chính trong bệnh sinh của tổn thương thần kinh thị giác và mất thị trường do bệnh tăng nhãn áp.
Sau khi nhỏ mắt, brinzolamide đươc hấp thu vào máu. Do ái lực của thuốc với CA-II, brinzolamide đươc phân bố mạnh vào trong hồng cầu và có thời gian bán hủy kéo dài trong máu toàn phần (khoảng 111 ngày). Ở người, chất chuyển hóa N-desethyl brinzolamide đươc tạo thành cũng gắn vào CA và tích tụ trong hồng cầu. Chất chuyển hóa này chủ yếu gắn với CA-I khi có mặt brinzolamide. Trong huyết tương, nồng độ của cả brinzolamide và N-desethyl brinzolamide thấp và thường dưới mức giới hạn định lương (< 10 ng/ml). Tỷ lệ gắn kết với protein huyết tương vào khoảng 60%. Brinzolamide đươc thải trừ chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không đổi. N-desethyl brinzolamide cũng đươc tìm thấy trong nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa N-desmethoxypropyl brinzolamide và O-desmethyl với nồng độ thấp hơn.
Trong một nghiên cứu dươc động hoc trên người tình nguyện khỏe mạnh đươc cho uống viên nang 1 mg brinzolamide 2 lần mỗi ngày trong 32 tuần. Chế độ điều trị này tương đương với lương thuốc nhỏ mắt Azopt (huyền dịch nhỏ mắt brinzolamide) 1% đươc nhỏ trên cả hai mắt 3 lần mỗi ngày và nồng độ thuốc và các chất chuyển hóa toàn thân thì tương tự như khi nhỏ mắt dài hạn. Đo hoạt tính CA trong hồng cầu để khảo sát mức độ ức chế CA toàn thân. Độ bảo hòa brinzolamide của CA-II đạt đươc trong vòng 4 tuần (nồng độ trong hồng cầu khoảng 20 mM). N-desethyl brinzolamide tích tụ trong hồng cầu ở trạng thái hằng định trong vòng 20-28 tuần với nồng độ dao động từ 6-30 mM. Sự ức chế CA-II ở trạng thái hằng định là khoảng 70-75%, thấp hơn mức độ ức chế có thể tác động lên chức năng thận hay hô hấp ở người khỏe mạnh.
Trong hai nghiên cứu lâm sàng kéo dài trong 3 tháng, Azopt (huyền dịch nhỏ mắt brinzolamide) 1% đươc nhỏ mắt 3 lần mỗi ngày cho bệnh nhân có áp suất nội nhãn cao đã làm hạ áp suất nội nhãn một cách đáng kể (4-5 mmHg). Mức độ hạ nhãn áp này tương đương với Trusopt (dung dịch nhỏ mắt dorzolamide hydrochloride) 2% nhỏ mắt 3 lần mỗi ngày trong cùng nghiên cứu.
Trong hai nghiên cứu lâm sàng trên bệnh nhân có áp suất nội nhãn cao, Azopt 1% ít gây ngứa và xốn mắt hơn khi sử dụng Trusopt 2%.
Khả năng sinh ung thư, khả năng gây đột biến, suy giảm khả năng sinh sản :
Chưa có dữ kiện về tính sinh ung thư của brinzolamide. Các thử nghiệm về tính đột biến sau thì âm tính : (1) thử nghiệm in vivo trên tiểu thể nhân của chuột ; (2) thử nghiệm in vivo trao đổi chromatide ; (3) thử nghiệm Ames trên vi khuẩn E. coli. Thử nghiệm in vitro theo hướng đột biến tạo lymphoma trên chuột thì âm tính khi không có hoạt hóa, nhưng dương tính khi có hoạt hóa vi tiểu thể.
Nghiên cứu tác dụng của brinzolamide trên sự sinh sản của chuột, thuốc không có tác dụng ngoại ý trên khả năng sinh sản ở chuột cái và chuột đực với liều 18 mg/kg/ngày (cao gấp 375 lần liều nhỏ mắt khuyến cáo cho người).
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Huyền dịch nhỏ mắt Azopt 1% đươc chỉ định để điều trị chứng tăng áp suất nội nhãn trên những bệnh nhân bị tăng áp suất nội nhãn hay glaucoma góc mở.
CÁCH DÙNG: LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Lắc kỹ trước khi dùng. Liều lương đươc khuyến cáo là một giot Huyền Dịch Nhỏ Mắt Azopt trên mắt bị bệnh ba lần mỗi ngày.
Có thể dùng chung Azopt với các thuốc nhỏ mắt khác để làm hạ áp suất nội nhãn.
Nếu sử dụng thêm một thuốc nhỏ mắt tại chỗ, nên nhỏ thuốc cách nhau ít nhất 10 phút.
QUÁ LIỀU
Mặc dù không có dữ kiện ở người, rối loạn điện giải, tình trạng toan hóa, và các ảnh hưởng trên hệ thần kinh có thể xảy ra khi uống thuốc quá liều. Phải theo dõi nồng độ các chất điện giải trong huyết thanh (đặc biệt là Kali) và pH máu.
BẢO QUẢN
Bảo quản Huyền Dịch Nhỏ Mắt Azopt 1% ở nhiệt độ 4-30°C. (39-86°F).
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Azopt là một sulfonamide và đươc hấp thu toàn thân mặc dù chỉ dùng tại chỗ. Do đó, có thể xảy ra một vài tác dụng ngoại ý liên quan đến sulfonamide khi dùng Azopt tại chỗ. Mặc dù hiếm nhưng cũng có thể xảy ra tử vong do những tác dụng phụ nghiêm trong của sulfonamide như hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử thương bì do nhiễm độc, hoại tử gan tối cấp, mất bạch cầu hạt, thiếu máu bất sản và các rối loạn tạo máu khác. Có thể xảy ra phản ứng mẫn cảm nếu tái sử dụng sulfonamide bất kể đường dùng nào. Nếu có triệu chứng của phản ứng phụ hay tăng cảm nghiêm trong xảy ra, phải ngưng sử dụng chế phẩm ngay lập tức.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Tổng quát :
Có thể ghi nhận hoạt tính của carbonic anhydrase cả trong bào tương và quanh màng huyết thanh của nội mô giác mạc. Tác động của việc sử dụng liên tục Azopt trên nội mô giác mạc vẫn chưa đươc đánh giá đầy đủ.
Bên cạnh các thuốc làm hạ nhãn áp, bệnh nhân glaucoma góc đóng cần phải có những biện pháp điều trị khác. Azopt chưa đươc nghiên cứu trên bệnh nhân bị glaucoma góc đóng.
Azopt chưa đươc nghiên cứu ở bệnh nhân suy thận nặng (CrCl < 30 ml/phút). Vì Azopt và các chất chuyển hóa đươc thải trừ chủ yếu qua thận, không nên sử dụng Azopt cho những bệnh nhân này.
Azopt chưa đươc nghiên cứu trên bệnh nhân suy gan và nên sử dụng cẩn thận trên những bệnh nhân này.
Vẫn có tiềm năng bị các tác dụng phụ cộng thêm của thuốc ức chế carbonic anhydrase trên những bệnh nhân đang sử dụng một thuốc ức chế carbonic anhydrase theo đường uống và Azopt. Không nên sử dụng đồng thời Azopt và thuốc ức chế carbonic anhydrase uống.
Thông tin cho bệnh nhân :
Azopt là một sulfonamide và đươc hấp thu toàn thân mặc dù chỉ dùng tại chỗ ; do đó, một vài tác dụng ngoại ý có liên quan đến sulfonamide có thể xảy ra khi dùng Azopt tại chỗ. Nên khuyên bệnh nhân nếu có phản ứng phụ nghiêm trong hay bất thường xảy ra ở mắt hay toàn thân, hoặc có những dấu hiệu của phản ứng quá mẫn, phải ngưng sử dụng và hỏi ý kiến bác sĩ ngay (xem phần Chú ý đề phòng).
Có thể bị nhìn mờ thoáng qua khi đang sử dụng Azopt. Nên cẩn thận khi vận hành máy móc hay khi lái xe.
Nên chỉ dẫn cho bệnh nhân không đươc để đầu lo thuốc chạm vào mắt hay các vùng xung quanh hay các bề mặt khác, vì sản phẩm có thể bị nhiễm vi trùng và gây nhiễm trùng mắt. Tổn thương mắt nghiêm trong và theo sau là mất thị lực có thể là hậu quả của việc sử dụng sản phẩm bị dây nhiễm.
Nên khuyên bệnh nhân rằng nếu ho phải mổ mắt hay bị các bệnh về mắt khác đi kèm (như chấn thương hay nhiễm trùng), nên hỏi ý kiến bác sĩ ngay lập tức có nên tiếp tục sử dụng lo thuốc đang dùng hay không.
Nếu đang sử dụng nhiều loại thuốc nhỏ mắt, các thuốc này phải đươc dùng cách nhau ít nhất 10 phút.
Chất bảo quản của Huyền Dịch Nhỏ Mắt Azopt là benzalkonium chloride có thể đươc hấp thu bởi kính tiếp xúc. Nên lấy kính tiếp xúc ra khi nhỏ thuốc và có thể đặt lại sau 15 phút.
Sử dụng trong nhi khoa :
Tính an toàn và hiệu quả trên bệnh nhi chưa đươc xác định.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Huyền Dịch Nhỏ Mắt Azopt 1% chứa một chất ức chế carbonic anhydrase. Các nghiên cứu lâm sàng không ghi nhận có thay đổi cân bằng kiềm toan hay các chất điện giải. Tuy nhiên, trên bệnh nhân đang sử dụng thuốc ức chế carbonic anhydrase đường uống, dù hiếm thấy và thoáng qua, có thể xảy ra những tương tác thuốc với điều trị salicylate liều cao. Do đó, nên cân nhắc khả năng xảy ra những tương tác thuốc này trên những bệnh nhân đươc điều trị với Azopt.
LÚC CÓ THAI
Tác dụng sinh quái thai : Các thử nghiệm về độc tính trên sự phát triển với brinzolamide trên thỏ với liều 1, 3, 6 mg/kg/ngày (20, 62, 125 lần liều nhỏ mắt đươc khuyến cáo cho người) gây độc cho chuột mẹ với liều 6 mg/kg/ngày và làm tăng đáng kể bất thường của thai như có xương so phụ, tác dụng này chỉ cao hơn một ít so với giá trị lịch sử tại liều 1 và 6 mg/kg/ngày. Trên chuột, cân nặng thai giảm có ý nghĩa thống kê khi cho chuột mẹ dùng liều uống 18 mg/kg/ngày (cao gấp 375 liều nhỏ mắt đươc khuyên dùng của người) khi đang mang thai, và không khác biệt có ý nghĩa thống kê trên sự phát triển của cơ quan hay mô. Sự gia tăng phần xương ức (sternebrae) không cốt hóa, giảm cốt hóa xương so, không cốt hóa xương móng xảy ra với liều 6 và 18 mg/kg thì không khác biệt có ý nghĩa thống kê. Không thấy dị dạng liên quan đến điều trị. Sau khi cho chuột có thai uống brinzolamide14C, chất phóng xạ đi qua nhau thai và tồn tại trong mô và máu của thai.
Chưa có nghiên cứu đầy đủ và có đối chứng kỹ càng trên phụ nữ có thai. Chỉ nên dùng Azopt trong thai kỳ khi lơi ích điều trị cao hơn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi.
LÚC NUÔI CON BÚ
Trong một nghiên cứu về brinzolamide trên chuột đang nuôi con bú, cân nặng của chuột con giảm ở liều 15 mg/kg/ngày (312 lần liều nhỏ mắt đươc khuyến cáo cho người). Không ghi nhận các tác dụng phụ khác.
Tuy nhiên, sau khi cho chuột đang nuôi con bú uống brinzolamide14C, chất phóng xạ đươc tìm thấy trong sữa với nồng độ thấp hơn trong máu và trong huyết tương.
Không biết đươc rằng thuốc có bài tiết qua sữa mẹ ở người hay không. Vì nhiều thuốc có thể bài tiết qua sữa mẹ và vì khả năng có thể xảy ra những tác dụng phụ nghiêm trong trên trẻ em bú sữa của người mẹ đang sử sụng Azopt, nên quyết định ngưng nuôi con bú hay ngưng thuốc, dựa trên tầm quan trong của thuốc đối với sức khỏe người mẹ.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Trong những nghiên cứu lâm sàng với Azopt (huyền dịch nhỏ mắt brinzolamide) 1%, tác dụng ngoại ý thường gặp nhất có liên quan đến việc sử dụng Azopt là nhìn mờ và có vị đắng, chua hay mùi vị bất thường. Những biến cố này xảy ra trên khoảng 5-10% bệnh nhân : Viêm mi mắt, viêm da, khô mắt, cảm giác như có dị vật, nhức đầu, sung huyết, xuất tiết nhãn cầu, khó chịu ở mắt, viêm giác mạc, đau nhãn cầu, ngứa mắt và viêm mũi đã đươc báo cáo với tần suất từ 1-5%.
Các tác dụng ngoại ý sau đã đươc báo cáo với tần suất dưới 1% : phản ứng dị ứng, sói đầu, đau ngực, viêm kết mạc, tiêu chảy, nhìn đôi, chóng mặt, khô miệng, khó thở, khó tiêu, mỏi mắt, tăng trương lực, viêm kết mạc giác mạc, bệnh giác mạc, đau thận, đóng vảy hay cảm giác dính ở mi mắt, buồn nôn, viêm hong, chảy nước mắt và nổi mề đay.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Azopt bị chống chỉ định trên những người nhạy cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.

Leave a Reply