Apo-Atenol 100mg

HÃNG SẢN XUẤT: Apotex incorporation
NHÓM THUỐC: Tăng huyết áp
THÀNH PHẦN: viên nén 100 mg : lo 100 viên, 500 viên và 1000 viên – Bảng B.
THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Atenolol 100 mg
DƯỢC LƯC
Apo-Atenol là một thuốc ức chế thụ thể bêta-adrenergic với tác động chủ yếu lên thụ thể bêta1. Thuốc không có tác động ổn định màng hay giống giao cảm nội tại (chất chủ vận một phần).
Cơ chế của tác động hạ huyết áp chưa đươc xác định. Các cơ chế sau có thể đươc xem là có liên quan :
- khả năng cạnh tranh đối kháng với chứng nhịp tim nhanh do catecholamine tại vị trí thụ thể bêta trên tim, do đó làm giảm lưu lương tim,
- ức chế sự giải phóng renin do thận,
- ức chế trung tâm vận mạch.
Cơ chế của tác động chống cơn đau thắt ngực cũng không đươc chắc chắn. Tác nhân quan trong có thể là việc làm giảm nhu cầu oxygen của cơ tim bằng cách ức chế gia tăng nhịp tim, huyết áp tâm thu, tốc độ và mức độ co cơ tim do catecholamine.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Khoảng 50% liều atenolol uống đươc hấp thu theo đường tiêu hóa, phần còn lại đươc đào thải qua phân dưới dạng không đổi. 6-16% atenolol gắn với protein huyết tương. Nồng độ tối đa trong huyết tương đạt đươc trong vòng 2-4 giờ. Nồng độ đỉnh trung bình trong huyết tương của atenolol lần lươt vào khoảng 300 đến 700 ng/ml sau khi uống 50 và 100 mg. Thời gian bán hủy khoảng 6-7 giờ. Atenolol đươc phân bố rộng rãi vào các mô ngoài mạch nhưng chỉ có một lương nhỏ đươc tìm thấy trong hệ thần kinh trung ương.
Khoảng 10% atenolol đươc chuyển hóa ở người. Khoảng 3% hoạt chất đươc tìm thấy trong nước tiểu dưới dạng chất chuyển hóa hydroxyl hóa đươc chứng minh trong nghiên cứu trên thú vật là có 10% tác động dươc lý của atenolol. Khoảng 47 và 53% liều uống tương ứng đươc đào thải trong nước tiểu và phân. Sự hồi phục toàn bộ trong vòng 72 giờ.
Các nghiên cứu sinh khả dụng đã đươc thực hiện trên những người tình nguyện. Đây là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá chất lương thuốc. Đối với các thuốc hóa dươc (generic drug), sinh khả dụng là một điều kiện bắt buộc của Bộ Y Tế và chính phủ Canada trong quy trình sản xuất dươc phẩm, đươc quy định hết sức chặt chẽ trước khi các dươc phẩm này đươc lưu hành khắp nước Canada và toàn cầu. Các dươc phẩm của Apotex sản xuất tại Canada, đều đạt tiêu chuẩn GMP của Tổ Chức Y Tế Thế Giới. Các thông số sinh khả dụng của các thuốc hóa dươc do Apotex sản xuất đươc so sánh với các thuốc có nhãn hiệu đươc ưa chuộng cùng loại của các hãng dươc phẩm hàng đầu trên thế giới : Tốc độ và mức độ hấp thu sau khi uống liều duy nhất 100 mg của Tenormin 100 mg hay Apo-Atenol 100 mg đươc đo lường và so sánh. Kết quả có thể đươc tóm tắt như sau :
Tenormin 100 mg Apo-Atenol 100 mg % Khác biệt
AUC 0-48 (ng.giờ/ml) 6202,1 5781,8 -6,8
Cmax (ng/ml) 697,3 660,4 -5,3
Tmax (giờ) 2,5 3,3 +32
t1/2 (giờ) 7,1 7,0 -1,4
Kết luận : Sinh khả dụng của Apo-Atenol và Tenormin đã đươc đánh giá bằng cách so sánh vận tốc và mức độ hấp thu thuốc. Theo những số liệu của nghiên cứu này, có thể kết luận rằng Apo-Atenol và Tenormin là tương đương về mặt sinh hoc và do đó, tương đương với nhau trên lâm sàng.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Cao huyết áp : Apo-Atenol đươc chỉ định dùng cho bệnh nhân cao huyết áp nhẹ hoặc trung bình. Thuốc thường đươc dùng kết hơp với các thuốc khác, đặc biệt là một thuốc lơi tiểu loại thiazide. Tuy nhiên thuốc có thể đươc dùng thử riêng rẽ như một tác nhân khởi đầu ở những bệnh nhân dưới sự xét đoán của bác sĩ nên bắt đầu dùng một thuốc ức chế bêta hơn là thuốc lơi tiểu. Atenolol có thể đươc dùng kết hơp với thuốc lơi tiểu và/hoặc thuốc giãn mạch để điều trị cao huyết áp nặng.
Sự kết hơp atenolol với một thuốc lơi tiểu hay một thuốc giãn mạch ngoại vi đã đươc chứng minh có sự tương hơp. Thí nghiệm giới hạn với những thuốc hạ huyết áp khác không cho thấy bằng chứng về tương k với atenolol.
Không nên dùng atenolol cho trường hơp cấp cứu cao huyết áp.
Đau thắt ngực : Atenolol đươc chỉ định điều trị lâu dài bệnh nhân đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim cục bộ.
CÁCH DÙNG: Cao huyết áp : Apo-Atenol (atenolol) thường đươc sử dụng kết hơp với các thuốc hạ huyết áp khác, đặc biệt là một thuốc lơi tiểu thiazide, nhưng cũng có thể đươc dùng riêng rẽ (xem Chỉ định).
Nên điều chỉnh liều Apo-Atenol theo từng bệnh nhân. Hướng dẫn sau đươc khuyến cáo : Dùng Apo-Atenol liều khởi đầu 50 mg, uống một viên mỗi ngày có hay không có kèm theo thuốc lơi tiểu. Tác dụng hoàn toàn của thuốc thường thấy đươc trong vòng một hoặc hai tuần. Nếu không đạt đươc đáp ứng thỏa đáng, nên tăng liều đến 100 mg một lần mỗi ngày. Sự tăng liều cao hơn 100 mg mỗi ngày hầu như không cho lơi ích nhiều hơn.
Nếu cần hạ huyết áp nhiều hơn, nên bổ sung vào phác đồ trị liệu một thuốc hạ huyết áp khác.
Đau thắt ngực : Liều khởi đầu của Apo-Atenol là dùng một viên 50 mg mỗi ngày. Tác dụng hoàn toàn của liều này thường đươc nhận thấy trong vòng một đến hai tuần. Nếu đáp ứng tối ưu chưa đạt đươc trong vòng một tuần, nên tăng liều thành một viên duy nhất 100 mg. Một vài bệnh nhân có thể cần đến liều 200 mg mỗi ngày mới đạt đươc hiệu quả tối ưu.
Bệnh nhân suy thận : Do atenolol đươc đào thải chủ yếu qua thận, nên điều chỉnh liều lương ở bệnh nhân suy thận nặng. Có sự tích tụ atenolol đáng kể khi độ thanh thải creatinine xuống dưới 35 ml/phút/1,73 m2 (giá trị bình thường vào khoảng 100-150 ml/phút/1,73 m2). Các liều lương tối đa như sau đươc khuyến cáo dùng cho bệnh nhân suy thận :
Thanh thải creatinine (ml/phút/1,73 m2) Thời gian bán hủy đào thải (giờ) Liều tối đa
15-35 16-27 50 mg mỗi ngày
< 15 > 27 50 mg cách ngày
Bệnh nhân loc máu nên đươc cho liều 50 mg sau mỗi lần loc máu ; nên thực hiện trong bệnh viện vì có thể xảy ra tụt huyết áp đáng kể.
QUÁ LIỀU
Dấu hiệu thường gặp nhất trong quá liều một thuốc ức chế bêta-adrenergic là tim chậm, suy tim sung huyết, tụt huyết áp, co thắt phế quản và hạ đường huyết.
Nếu bị quá liều, trong tất cả moi trường hơp, nên ngưng atenolol và theo dõi bệnh nhân thật cẩn thận. Thêm vào đó, thực hiện các biện pháp sau nếu cần thiết :
- Tim chậm : Atropine hay một thuốc kháng cholinergic khác
- Bloc tim (độ hai hoặc ba) : Isoproterenol hay chất tạo nhịp tim qua tĩnh mạch.
- Suy tim sung huyết : Các trị liệu hiện hành.
- Hạ huyết áp : (tùy thuộc vào tác nhân đi kèm) Epinephrine tốt hơn isoproterenol hay norepinephrine có thể đươc dùng kèm theo atropine và digitalis (xem Thận trong lúc dùng về sự sử dụng epinephrine trên bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế bêta).
- Co thắt phế quản : aminophylline hay isoproterenol.
- Hạ đường huyết : truyền tĩnh mạch glucose.
Nên nhớ rằng atenolol là chất đối kháng tương tranh với isoproterenol và do đó, một lương lớn isoproterenol có thể đươc mong đơi làm đảo ngươc lại nhiều tác dụng của các liều quá độ atenolol. Tuy nhiên không nên xem nhẹ các biến chứng của việc sử dụng quá liều isoproterenol.
BẢO QUẢN
Nên bảo quản tránh ẩm và ánh sáng. Tồn trữ thuốc ở nhiệt độ 15-30oC.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG
Suy tim : Nên đặc biệt cẩn thận khi dùng Apo-Atenol (atenolol) cho bệnh nhân có tiền sử suy tim. Kích thích giao cảm là một thành phần thiết yếu hỗ trơ cho chức năng tuần hoàn trong suy tim sung huyết, và sự ức chế với chất ức chế bêta luôn luôn đi kèm theo khả năng xảy ra nguy cơ làm giảm khả năng co bóp cơ tim và làm suy tim. Atenolol tác động một cách chon loc không làm loại bỏ hoạt tính inotrope của digitalis trên cơ tim. Tuy nhiên, tác động inotrope dương tính của digitalis có thể bị giảm do tác động inotrope âm tính của atenolol khi hai thuốc đươc sử dụng đồng thời. Tác động của các chất ức chế bêta với digitalis là đồng vận trong việc làm giảm sự dẫn truyền nhĩ thất. Trên bệnh nhân không có tiền sử suy tim, suy yếu cơ tim liên tục qua một thời gian, trong một vài trường hơp, sẽ dẫn đến suy tim. Do đó, ngay khi có dấu hiệu đầu tiên dẫn đến suy tim, bệnh nhân nên đươc cho dùng digitalis đầy đủ và/hoặc một thuốc lơi tiểu và theo dõi cẩn thận sự đáp ứng. Nếu sự suy tim vẫn tiếp tục mặc dù đã cho đầy đủ digitalis và thuốc lơi tiểu, nên ngưng lập tức trị liệu với atenolol.
Ngưng đột ngột việc điều trị với Apo-Atenol : bệnh nhân đau thắt ngực nên đươc cảnh cáo không đươc ngưng đột ngột atenolol. Đã có những báo cáo về sự tăng vot chứng đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim hay loạn nhịp thất xảy ra trên bệnh nhân bị đau thắt ngực sau khi ngưng đột ngột các thuốc chẹn bêta. Hai biến chứng sau cùng có thể xảy ra có hay không có cơn đau thắt ngực báo trước. Do đó, khi dự tính ngưng dùng atenolol ở bệnh nhân đau thắt ngực, nên giảm liều dần dần trong vòng hai tuần lễ, theo dõi bệnh nhân thật kỹ và nên giới hạn các hoạt động thể lực đến mức thấp nhất. Nên giử nguyên khoảng thời gian dùng thuốc. Trong những trường hơp khẩn cấp hơn, nên ngưng atenolol từng bậc trong một khoảng thời gian ngắn hơn và theo dõi kỹ càng hơn. Nếu đau thắt ngực trở nên nặng hơn đáng kể hay xuất hiện thiểu năng mạch vành cấp, nên dùng atenolol trở lại ngay lập tức, ít nhất cũng tạm thời trong thời gian này.
Hội chứng mắt-niêm mạc-da : Các chứng nổi ban da và khô kết mạc đã đươc báo cáo xảy ra với các thuốc ức chế bêta trong đó có atenolol.
Một hội chứng trầm trong (Hội chứng mắt-niêm mạc-da) có các dấu hiệu bao gồm viêm kết mạc khô và nổi ban dạng vảy nến, viêm tai và viêm thanh mạc gây cứng đã xảy ra khi dùng lâu dài một thuốc ức chế bêta-adrenergic (practolol). Hội chứng này không đươc nhận thấy với atenolol hay những thuốc tương tự. Tuy nhiên, bác sĩ nên cảnh giác với khả năng xảy ra những phản ứng như trên và nên ngưng dùng thuốc nếu chúng có xảy ra.
Chậm nhịp xoang : Chậm nhịp xoang nặng có thể xảy ra khi sử dụng atenolol do tác động không đối lập của dây thần kinh phế vị vẫn còn duy trì sau khi phong tỏa thụ thể bêta 1-adregenic ; trong những trường hơp như thế, nên giảm liều.
Trên bệnh nhân nhiễm độc giáp : Trên bệnh nhân nhiễm độc giáp, chưa xác định đươc các ảnh hưởng có hại có thể xảy ra do sử dụng lâu dài atenolol. Sự phong tỏa bêta có thể che giấu các dấu hiệu lâm sàng của nhiễm độc giáp kéo dài hay các biến chứng của nó và cho một cảm tưởng cải thiện bệnh giả tạo. Do đó, sự ngưng atenolol đột ngột có thể kéo theo một sự tăng vot các triệu chứng cường giáp, bao gồm những cơn bão giáp.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
- Do tác động chủ yếu ức chế trên bêta 1, Apo-Atenol (atenolol) có thể đươc sử dụng thử ở bệnh nhân mắc những chứng bệnh kèm theo co thắt phế quản có yêu cầu điều trị với tác nhân ức chế bêta. Tuy nhiên, cần thiết theo dõi cẩn thận những bệnh nhân này và phải dùng đồng thời một thuốc giãn phế quản. Nếu dự tính điều trị đầu tiên bằng một thuốc giãn phế quản, có thể xem xét sử dụng một thuốc giãn phế quản loại giống giao cảm. Trên những bệnh nhân đã có sử dụng thuốc giãn phế quản trước đó, đôi khi có thể cần phải gia tăng liều. Tình trạng hô hấp của một vài bệnh nhân có thể xấu hơn mặc dù đã thực hiện những thận trong nêu trên, và, trong những trường hơp như vậy, nên ngưng dùng atenolol.
- Có thể khó khăn hơn trong việc điều trị phản ứng dị ứng trên bệnh nhân đang điều trị các thuốc ức chế bêta. Trên những bệnh nhân này, phản ứng có thể nặng hơn do các tác động dươc lý của các thuốc ức chế bêta và các thay đổi về dịch trong cơ thể. Khi điều trị phản vệ nên dùng cẩn thận epinephrine do thuốc có thể không biểu hiện những tác động thông thường. Ở một vài trường hơp, có thể cần dùng các liều cao epinephrine để vươt qua sự co thắt phế quản, trong khi trong một số trường hơp khác, các liều cao này có thể dẫn đến kích thích a-adrenergic quá độ với hệ quả chứng cao huyết áp, chứng nhịp tim chậm và nghẽn tim phản xạ và ức chế tim và có thể làm nặng thêm chứng co thắt phế quản. Các phương pháp khác có thể dùng để thay thế cho sự sử dụng liều cao epinephrine gồm có các điều trị hỗ trơ như truyền dịch và sử dụng các chất chủ vận bêta, trong đó có salbutamol hay isoproterenol tiêm để chống co thắt phế quản và norepinephrine để tăng huyết áp.
- Atenolol nên sử dụng cẩn thận ở bệnh nhân nghi ngờ là có hạ đường huyết đồng thời, hay cho bệnh nhân tiểu đường (đặc biệt là người bệnh tiểu đường không ổn định) đang dùng insulin hay các thuốc hạ đường huyết uống. Các thuốc ức chế bêta có thể che dấu những dấu hiệu và triệu chứng báo trước của cơn hạ đường huyết cấp.
- Nghiên cứu trên thú vật : Các nghiên cứu dài ngày đươc thực hiện trên thú vật đã cho thấy có sự tạo thành không bào ở tế bào biểu mô của tuyến Brunner ở tá tràng của chó đực và cái với tất cả các mức liều atenolol thử nghiệm (bắt đầu với 15 mg/kg/ngày hay 7,5 lần liều tối đa khuyến cáo sử dụng cho người) và một sự gia tăng tỷ lệ thoái hóa tâm nhĩ ở chuột đực với liều 300 mg/kg/ngày nhưng không ảnh hưởng ở liều 150 mg/kg/ngày (tương ứng với liều gấp 150 và 70 lần liều tối đa khuyến cáo sử dụng cho người).
- Nên thực hiện đều đặn các xét nghiệm thích hơp kiểm tra chức năng thận, gan và chức năng tạo máu trong suốt quá trình điều trị kéo dài.
- Nên sử dụng atenolol cẩn thận trên bệnh nhân suy thận (xem Liều lương và Cách dùng).
Khi chức năng thận bị suy giảm, sự thanh thải atenolol có liên quan chặt chẽ với tốc độ thanh thải cầu thận ; tuy nhiên, không có sự tích tụ đáng kể cho đến khi thanh thải creatinine dưới 35 ml/phút/1,73 m2.
- Việc kiểm soát bệnh nhân đươc điều trị với các thuốc ức chế bêta và chịu phẫu thuật cấp cứu và phẫu thuật chon loc vẫn còn đang tranh luận. Mặc dù sự phong tỏa thụ thể bêta-adrenergic làm giảm khả năng đáp ứng với những kích thích phản xạ qua trung gian bêta-adrenergic, sự ngưng điều trị đột ngột với atenolol có thể kéo theo những các biến chứng trầm trong (xem Chú ý đề phòng). Một vài bệnh nhân dùng các thuốc ức chế bêta-adrenergic đã bị tụt huyết áp nặng kéo dài trong khi gây mê. Cũng đã có những trường hơp gặp khó khăn khi tái tạo và duy trì nhịp tim trở lại.
Vì những lý do trên, ở bệnh nhân đau thắt ngực chịu phẫu thuật chon loc, nên ngưng atenolol một cách cẩn thận theo những khuyến cáo trong phần Ngưng thuốc đột ngột (xem Chú ý đề phòng). Theo những bằng chứng có đươc, tất cả những tác dụng lâm sàng và sinh lý của sự ức chế bêta không kéo dài quá 72 giờ sau khi ngưng dùng thuốc.
Trong phẫu thuật cấp cứu, do atenolol là một tác nhân ức chế cạnh tranh của chất chủ vận trên thụ thể bêta-adrenergic, nó có thể gây tác động ngươc lại, nếu cần thiết, bằng những liều lương đầy đủ của những chất chủ vận như isoproterenol hay levarterenol.
- Sử dụng cho trẻ em : Không có cuộc thí nghiệm điều trị atenolol cho trẻ em.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Atenolol đã đươc chứng minh làm gia tăng có phụ thuộc vào liều lương sẩy thai ở chuột cống với liều lương bằng hay lớn hơn 50 mg/kg hoặc 25 lần liều khuyến cáo dùng cho người. Không có nghiên cứu đầy đủ và kiểm soát kỹ đươc thực hiện trên phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên người đã chứng tỏ rằng atenolol thật sự có đi qua nhau thai với nồng độ thuốc trong huyết thanh của thai nhi tương đương với nồng độ của người mẹ. Sự tích tụ hầu như không xảy ra trên thai nhi. Chỉ có giới hạn một vài thông tin về sử dụng atenolol trên phụ nữ có thai ở một vài người đươc cho uống thuốc trong giai đoạn ba tháng cuối thai kỳ. Chỉ nên dùng atenolol lúc có thai nếu lơi ích mong đơi cao hơn nguy cơ có thể xảy ra cho thai nhi.
Lúc nuôi con bú :
Ở người, atenolol đươc bài tiết qua sữa mẹ. Nếu xét thấy cần thiết phải sử dụng atenolol, người mẹ nên ngưng cho con bú.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Nếu quyết định ngưng điều trị ở bệnh nhân dùng các tác nhân ức chế bêta và clonidine đồng thời, nên ngưng thuốc ức chế bêta vài ngày trước khi ngưng từ từ clonidine. Đã có đề nghị rằng việc ngưng dùng clonidine trong khi đang dùng thuốc ức chế bêta có thể làm nặng hơn hội chứng xảy ra do ngưng clonidine (xem thông tin kê toa của clonidine).
Bệnh nhân dùng thuốc làm cạn kiệt catecholamine, như reserpin hay guanethidine, nên đươc theo dõi cẩn thận vì tác động ức chế bêta-adrenergic thêm vào có thể tạo ra một sự giảm hoạt động giao cảm quá độ.
Không nên dùng atenolol kết hơp với những thuốc ức chế bêta khác.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Tác dụng ngoại ý trầm trong nhất gặp phải là suy tim sung huyết, bloc nhĩ thất và co thắt phế quản.
Tác động ngoại ý thường đươc báo cáo nhiều nhất trong những thử nghiệm lâm sàng với atenolol là chậm tim (3%), chóng mặt (3%), choáng váng (2%), mệt mỏi (3%), tiêu chảy (2%) và buồn nôn (3%).
Các tác dụng ngoại ý phân loại theo hệ cơ quan như sau :
Tim mạch : Suy tim xung huyết (xem Chú ý đề phòng), chậm nhịp tim nặng, bloc nhĩ thất, đánh trống ngực, kéo dài đoạn P-R, đau ngực, choáng váng và hạ huyết áp thế đứng, hiện tương Raynaud, khập khểnh, đau chân và lạnh tay chân, phù nề.
Hô hấp : Khó thở, thở khò khè, ho, co thắt phế quản.
Hệ thần kinh trung ương : Nhức đầu, chóng mặt, ngất, mất điều hòa, mệt mỏi, ngủ lịm, lo lắng, trầm cảm, buồn ngủ, giấc mơ sâu đậm, mất ngủ, dị cảm, ù tai.
Hệ tiêu hóa : Đau bụng, khó tiêu, tiêu chảy, buồn nôn, chán ăn.
Linh tinh : Nổi ban da, ngứa và/hoặc khô mắt, giảm dung nạp vận động, chảy máu cam, cơn bừng hỏa, bất lực, giảm tình dục, đổ mồ hôi, đau nhức toàn thân.
Các tác dụng ngoại ý sau có xảy ra với các thuốc ức chế bêta nhưng không có báo cáo xuất hiện với atenolol :
Tim mạch : phù phổi, to tim, cơn bừng hỏa, ngất, và ngưng nhịp xoang.
Hệ thần kinh trung ương : tính tình hung hăng, lú lẫn, bồn chồn và ảo giác.
Hô hấp : co thắt thanh quản và hen suyễn.
Da liễu : viêm da tróc vảy.
Nhãn khoa : nhìn mờ, cảm giác nóng bỏng và rối loạn thị lực.
Huyết hoc : ban xuất huyết giảm tiểu cầu.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Apo- Atenolol (atenolol) không nên dùng trong những trường hơp :
- chậm nhịp xoang.
- bloc nhĩ thất độ hai và ba.
- suy thất phải thứ phát do tăng áp phổi.
- suy tim sung huyết.
- sốc tim.
- gây vô cảm với những tác nhân làm suy cơ tim như ether.
- quá mẫn với atenolol.

Leave a Reply