Amaryl 2mg

HÃNG SẢN XUẤT: Hoechst – Marion – R
NHÓM THUỐC: Tiểu đường
THÀNH PHẦN: THÀNH PHẦN
cho 1 viên
Glimepiride 2 mg
DƯỢC LƯC
Thuốc trị tiểu đường dạng uống (A : hệ tiêu hóa và chuyển hóa).
Glimepiride là một sulfamide hạ đường huyết thuộc nhóm các sulfonylurea. Nó có thể đươc sử dụng trong điều trị tiểu đường không lệ thuộc insuline. Nó tác động chủ yếu bằng cách kích thích giải phóng insuline ở các tế bào bêta của đảo Langerhans ở tụy tạng. Cũng như các sulfonylurea khác, hiệu lực này dựa trên sự đáp ứng của các tế bào này đối với tác nhân kích thích sinh lý là glucose. Ngoài ra, glimepiride cũng như các sulfonylurea khác dường như cũng gây các tác dụng ngoài tuyến tụy đã đươc ghi nhận.
Tác dụng trên sự giải phóng insuline :
Các sulfonylurea điều hòa sự bài tiết insuline bằng cách đóng các kênh kali lệ thuộc vào ATP ở các màng của tế bào bêta. Việc đóng kênh kali sẽ gây khử cực ở màng, làm tăng xâm nhập calci vào trong tế bào (do mở kênh calci). Việc tăng nồng độ calci trong tế bào sẽ kích thích sự giải phóng insuline ra khỏi tế bào.
Glimepiride đươc liên kết nhanh và nhả nhanh với protéine ở màng tế bào bêta và đươc phân biệt với các sulfonylurea khác ở loại protéine liên kết, phối hơp với kênh kali lệ thuộc vào ATP.
Tác dụng ngoài tuyến tụy :
Các tác dụng ngoài tuyến tụy như cải thiện sự nhạy cảm của các mô ở ngoại biên đối với insuline và làm giảm sự thu hồi insuline ở gan.
Việc thu hồi glucose trong máu bởi các tế bào cơ và các tế bào mỡ đươc thực hiện qua trung gian của các protéine chuyên chở của màng tế bào. Hiện tương này là một yếu tố làm giới hạn tốc độ sử dụng glucose.
Glimepiride làm tăng rất nhanh số lương các chất chuyên chở chủ động trong màng tế bào cơ và tế bào mỡ, như thế điều này cũng làm kích thích việc thu hồi glucose.
Glimepiride làm tăng hoạt động của phospholipase C chuyên biệt của glucosylphosphatidylinositol ; sự tăng này có thể hơp với việc tạo mỡ và tạo glycogène do tác động của thuốc trong các tế bào mỡ và cơ đã đươc cách ly. Glimepiride ức chế việc tạo glucose ở gan bằng cách làm tăng nồng độ trong tế bào của fructose 2,6-diphosphate, chất này tới phiên nó lại ức chế sự tân tạo glucose.
Tác động chung :
Ở người lành mạnh, liều tối thiểu có hiệu quả bằng đường uống là 0,6 mg. Hiệu lực của glimepiride lệ thuộc vào liều và có thể gây lại tác động. Đáp ứng sinh lý khi cố gắng (giảm bài tiết insuline) vẫn xảy ra khi dùng glimepiride.
Nếu dùng thuốc trong bữa ăn hay khoảng 30 phút trước bữa ăn thì tác dụng của thuốc vẫn tương tự nhau. Ở bệnh nhân bị tiểu đường, dùng liều duy nhất hàng ngày cho phép kiểm soát thỏa đáng đươc sự chuyển hóa trong vòng một ngày đêm.
Mặc dù chất chuyển hóa hydroxy của glimepiride cũng có tác động hạ đường huyết nhẹ, nhưng chỉ đóng góp một phần nhỏ vào tác dụng hạ đường huyết toàn phần.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Glimepiride có sinh khả dụng hoàn toàn. Thức ăn không làm thay đổi đáng kể sự hấp thu của thuốc, tuy nhiên tốc độ hấp thu có chậm đi một ít. Nồng độ tối đa trong huyết tương (Cmax) đạt đươc khoảng sau khi uống thuốc 2 giờ 30 phút (trung bình là 0,3 mg/ml sau khi dùng các liều lặp lại 4 mg).
Liên quan giữa liều dùng và Cmax hay diện tích dưới đường cong nồng độ theo thời gian là tuyến tính.
Glimepiride có thể tích phân phối rất thấp (khoảng 8,8 l), tương tự như thể tích phân phối của albumine ; glimepiride liên kết mạnh với protéine huyết tương (> 99%) và có độ thanh thải thấp (48 ml/phút).
Thời gian bán hủy đào thải đươc tính dựa trên các nồng độ thuốc đo đươc trong huyết thanh sau khi dùng các liều lặp lại là từ 5 đến 8 giờ. Tuy nhiên khi dùng liều cao, thời gian bán hủy đươc ghi nhận là có dài hơn.
Sau khi dùng glimepiride đã đươc đánh dấu, người ta thấy có 58% hoạt chất có trong nước tiểu và 35% có trong phân. Trong nước tiểu không có vết của hoạt chất thuốc không bị chuyển hóa. Hai chất chuyển hóa đươc tạo thành ở gan đươc nhận diện đồng thời ở trong cả nước tiểu và trong phân. Đó là dẫn xuất hydroxy và dẫn xuất carboxy của glimepiride.
Sau khi uống glimepiride, thời gian bán hủy cuối cùng của các chất chuyển hóa lần lươt là từ 3 đến 6 giờ và từ 5 đến 6 giờ.
Các thông số dươc động hoc của glimepiride không bị thay đổi khi dùng các liều lặp lại (uống một lần mỗi ngày).
Các dao động về thông số dươc động hoc ở từng người thì rất thấp và không có nguy cơ bị tích lũy thuốc.
Các thông số dươc động hoc tương tự nhau ở cả hai giới tính và không thay đổi theo tuổi tác (trên 65 tuổi).
Ở người có thanh thải créatinine giảm, sự thanh thải trong huyết tương của glimepiride tăng và nồng độ trung bình trong huyết thanh giảm do sự đào thải của thuốc tăng lên do giảm liên kết với protéine. Sự đào thải qua thận của hai chất chuyển hóa giảm. Dường như không có hiện tương tích lũy thuốc ở những bệnh nhân này.
Dươc động hoc ở 5 bệnh nhân không bị tiểu đường đã đươc phẫu thuật kênh dẫn mật vẫn tương tự như dươc động hoc khi dùng thuốc cho người lành mạnh.
Ở động vật, glimepiride đươc bài tiết qua sữa.
Glimepiride qua đươc hàng rào nhau thai ; thuốc qua hàng rào máu não kém.
AN TOÀN TIỀN LÂM SÀNG
Các nghiên cứu độc tính trường diễn và bán trường diễn trên chuột cống, chuột nhắt và chó đã cho thấy có sự giảm đường huyết cũng như sự mất hạt các tế bào bêta của tụy tạng. Sự thay đổi này thường sẽ tự khỏi và tương ứng với tác dụng dươc lực của thuốc. Trong các nghiên cứu độc tính trường diễn trên chó, đã ghi nhận có 2 trường hơp bị đục thủy tinh thể khi cho dùng liều cao (320 mg/kg). Các thí nghiệm in vitro trên thủy tinh thể của bò không cho thấy glimepiride là tác nhân hay đồng tác nhân gây đục thủy tinh thể.
Glimepiride không gây đột biến hay độc tính trên gen.
Glimepiride có thể làm tăng nhẹ tai biến gây ung thư tuyến ở tử cung của chuột cống đươc cho dùng liều cao (345 mg/kg).
Các yếu tố an toàn dựa trên việc so sánh tác động toàn thân của thuốc trên chuột cống và trên người thì đủ cao (khoảng 20 lần) để loại trừ những nguy cơ có thể xảy ra trên người khi dùng thuốc ở liều điều trị.
Trên chuột nhắt, người ta ghi nhận có tăng tai biến gây tăng sản và u tuyến các tế bào của đảo Langerhans, đươc xem là kết quả của việc kích thích lâu ngày các tế bào này.
Dùng glimepiride cho chuột cống không làm thay đổi khả năng sinh sản hay tiến triển của thai kỳ. Các trường hơp dị dạng trên mắt và xương sườn có xảy ra ở thỏ và chuột cống, ngoài ra ở thỏ còn ghi nhận có tăng tỷ lệ sẩy thai và chết trong tử cung.
Thông tin trên web chỉ có tính tham khảo
CHỈ ĐỊNH: Tiểu đường không phụ thuộc insuline (loại II) ở người lớn, khi nồng độ đường huyết không thể kiểm soát thỏa đáng đươc bằng chế độ ăn kiêng, tập thể dục và giảm cân nặng đơn thuần.
CÁCH DÙNG: Nguyên tắc chung :
- Dùng liều thấp nhất để đạt đươc mức đường huyết mong muốn.
- Trị liệu phải đươc khởi đầu và theo dõi bởi bác sĩ.
- Bệnh nhân phải uống thuốc đúng liều và đúng thời gian theo toa bác sĩ.
- Bác sĩ phải dặn trước bệnh nhân phải xử trí ra sao trong những trường hơp vi phạm chế độ điều trị thí dụ như quên uống một liều thuốc, quên một bữa ăn, hay không thể uống thuốc đúng thời gian dặn trong toa.
- Không bao giờ đươc uống bù một liều thuốc quên uống bằng cách dùng một liều cao hơn.
- Nếu phát hiện đã dùng một liều quá cao hoặc uống dư một liều phải báo bác sĩ ngay.
Liều khởi đầu và cách định liều :
- Khởi đầu : 1 viên 1 mg x 1 lần/ngày.
- Sau đó nếu cần, tăng liều từ từ theo sự hướng dẫn của đường huyết : mỗi nấc phải cách quãng 1-2 tuần theo thang liều sau đây : 1 mg – 2 mg – 3 mg – 4 mg – 6 mg (- 8 mg).
Giới hạn liều ở các bệnh nhân đươc kiểm soát tốt đường huyết :
Thường liều dùng của các bệnh nhân này trong khoảng 1-4 mg. Các liều hàng ngày trên 6 mg chỉ có hiệu quả ở một thiểu số bệnh nhân.
Giờ giấc dùng thuốc và cách phân liều :
- Giờ giấc dùng thuốc và cách phân liều phải do bác sĩ quyết định căn cứ trên sinh hoạt của bệnh nhân.
- Bình thường một lần trong ngày là đủ.
- Uống thuốc trước bữa ăn sáng có nhiều thức ăn hoặc trước bữa ăn chính đầu tiên trong ngày.
- Điều quan trong là không đươc bỏ thức ăn sau khi đã uống thuốc.
Điều chỉnh liều :
Cần phải điều chỉnh liều trong các trường hơp sau :
- Do độ nhạy đối với insulin cải thiện khi bệnh đươc kiểm soát, nhu cầu đối với glimepiride có thể giảm khi điều trị một thời gian. Để tránh bị hạ đường huyết, cần phải chú ý giảm liều hoặc ngưng hẵn thuốc đúng lúc.
- Cân nặng của bệnh nhân thay đổi.
- Sinh hoạt của bệnh nhân thay đổi.
- Các yếu tố có thể gây tăng độ nhạy đối với hạ hay tăng đường huyết.
Thời gian điều trị :
Thường dài hạn.
Đổi thuốc :
Không có liên hệ chính xác về liều lương giữa Amaryl và các thuốc tiểu đường dạng uống khác. Khi đổi từ một thuốc tiểu đường uống khác sang Amaryl, cũng phải khởi đầu bằng 1 mg rồi tăng dần như trên, cho dù bệnh nhân đã dùng đến liều tối đa của thuốc tiểu đường khác. Phải chú ý đến hiệu lực và thời gian tác dụng của thuốc tiểu đường trước đó. Có thể phải cho bệnh nhân ngưng thuốc trong một thời gian để tránh tác dụng cộng của hai thuốc đưa đến hạ đường huyết.
- Khi hiệu quả của Amaryl giảm (thất bại không toàn phần thứ phát) có thể dùng chung với insulin.
- Amaryl cũng có thể dùng chung với các thuốc trị tiểu đường dạng uống không hướng tế bào bêta khác.
Cách dùng :
Nuốt nguyên viên, không nhai, với khoảng nửa ly nước.
QUÁ LIỀU
Triệu chứng :
Uống một lần quá liều hoặc dùng dài hạn liều quá cao có thể dẫn đến hạ đường huyết nặng, kéo dài, nguy hiểm đến tính mạng.
Xử trí :
- báo cho bác sĩ ngay,
- ăn ngay đường,
- theo dõi kỹ đề phòng tái phát,
- nhập viện nếu cần,
- nếu bệnh nhân mất tri giác, truyền đường ưu trương,
- ở người lớn, có thể cho glucagon,
- đặc biệt ở nhũ nhi và trẻ em, phải theo dõi đường huyết cẩn thận khi cho glucose vì có thể bị tăng đường huyết nguy hiểm,
- nếu uống quá nhiều glimepiride, nên rửa bao tử và cho than hoạt,
- sau khi truyền nhanh đường ưu trương, phải truyền đường duy trì để tránh hạ đường huyết tái phát,
- đường huyết phải đươc theo dõi ít nhất 24 giờ.
BẢO QUẢN
Bảo quản tránh ẩm.
TÁC DỤNG PHỤ: CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG và THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Chú ý đề phòng :
- Các dấu hiệu lâm sàng của tăng đường huyết : tiểu nhiều lần, khát nước dữ dội, khô miệng, da khô.
- Trong những trường hơp bệnh nhân bị stress (thí dụ : chấn thương, phẫu thuật, nhiễm trùng, sốt) khi sự điều hòa đường huyết có thể bị suy giảm, có thể cần phải chuyển tạm thời qua insulin.
Thận trong lúc dùng :
- Trong các tuần lễ khi mới bắt đầu điều trị, có thể xảy ra hạ đường huyết. Cần phải theo dõi sát.
- Để đạt đươc mục tiêu trị liệu là kiểm soát đường huyết một cách tối ưu, bệnh nhân phải áp dụng đều đặn và đúng đắn chế độ ăn, tập thể dục, giảm cân nặng nếu cần cũng như uống thuốc.
- Trong khi điều trị, phải đo đều đặn đường huyết và đường niệu. Ngoài ra, cũng nên đo cả glycated haemoglobin định kỳ.
- Khi bắt đầu điều trị, bác sĩ cần phải giải thích kỹ lưỡng cho bệnh nhân. Bác sĩ và bệnh nhân phải chú ý đến nguy cơ hạ đường huyết.
Các yếu tố đưa đến nguy cơ hạ đường huyết :
- bệnh nhân không hơp tác tốt,
- thiếu dinh dưỡng, ăn uống thất thường,
- mất cân bằng giữa hoạt động thể lực và lương carbohydrate ăn vào,
- thay đổi chế độ ăn,
- uống rươu, nhất là khi kèm với việc bỏ các bữa ăn,
- suy chức năng thận,
- rối loạn trầm trong chức năng gan,
- quá liều glimepiride,
- rối loạn mất bù của hệ nội tiết ảnh hưởng đến biến dưỡng carbohydrate hay phản ứng điều chỉnh ngươc của hạ đường huyết (thí dụ trong một số rối loạn tuyến giáp và trong suy tuyến yên trước hay vỏ thương thận),
- dùng chung với một số thuốc khác (xem phần Tương tác thuốc),
- điều trị không có chỉ định.
Hạ đường huyết :
- Hạ đường huyết gần như luôn luôn kiểm soát đươc bằng cách ăn ngay đường hay uống các thức uống có đường. Bệnh nhân phải luôn luôn mang theo người ít nhất 20 g đường. Đường nhân tạo không có tác dụng điều trị hạ đường huyết.
- Sau đó phải theo dõi bệnh nhân sát vì có thể bị tái phát.
- Nếu bị hạ đường huyết nặng, phải báo bác sĩ và đôi khi phải nhập viện.
- Trong trường hơp một bệnh nhân tiểu đường đươc điều trị một bệnh khác do bác sĩ khác, phải báo cho bác sĩ biết tình trạng bệnh tiểu đường của mình cùng với trị liệu trước đó.
Lái xe hoặc vận hành máy móc :
Trong các cơn hạ hoặc tăng đường huyết, nhất là khi khởi đầu hay thay đổi trị liệu hoặc khi không dùng glimepiride đều đặn, sự linh hoạt và phản ứng của bệnh nhân có thể bị suy giảm.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON BÚ
Lúc có thai :
Chống chỉ định Amaryl cho phụ nữ có thai, và hơn nữa bởi vì tiểu đường ở phụ nữ có thai trong đa số các trường hơp cần phải đươc điều trị bằng insuline trong suốt thai kỳ. Nếu bệnh nhân có thai trong khi điều trị, cần thông báo cho bác sĩ điều trị biết.
Các nghiên cứu trên sự sinh sản cho thấy rằng thuốc có độc tính trên phôi, gây quái thai cũng như có độc tính trong quá trình phát triển của thai. Tất cả các độc tính trên sự sinh sản là do tác dụng dươc lý của thuốc khi dùng liều rất cao và không riêng biệt cho loại thuốc này.
Lúc nuôi con bú :
Các sulfonylurea cũng như glimepiride đươc bài tiết qua sữa mẹ, do đó chống chỉ định cho con bú mẹ.
TƯƠNG TÁC THUỐC
- Không có tương tác thuốc với thức ăn cũng như không có chống chỉ định dùng chung glimepiride với các thuốc khác.
- Các thuốc sau đây làm tăng tác dụng hạ đường huyết của glimepiride, do đó có thể gây hạ đường huyết : insulin, các thuốc tiểu đường dạng uống, ức chế men chuyển, các steroid đồng hóa và nội tiết tố sinh dục nam, chloramphenicol, coumarin, cyclophosphamide, disopyramide, fenfluramine, fenyramidol, fibrate, fluoxetin, ifosfamide, ức chế MAO, miconazole, para-aminosalicylicnacid, pentoxyfylline (liều cao dạng tiêm), phenylbutazone, azapropazone, oxyphenbutazone, probenecid, quinolones, salicylates, sulfinpyrazone, sulfonamide, các thuốc ức chế giao cảm thí dụ như ức chế bêta và guanethidine, tetracycline, tritoqualine, trofosfamide.
- Các thuốc sau đây làm giảm tác dụng hạ đường huyết của glimepiride, do đó có thể gây tăng đường huyết : acetazolamide, barbiturates, corticosteroids, diazoxide, lơi tiểu, epinephrine (adrenaline) và các thuốc tác dụng giống thần kinh giao cảm khác, glucagon, nhuận trường (sau khi điều trị dài hạn), acid nicotic (liều cao), estrogen và progesterone, phenothiazine, phenytoin, nội tiết tố tuyến giáp, rifampicin.
- Các thuốc đối kháng thụ thể H2, clonidine, và reserpine có thể làm tăng hay giảm tác dụng hạ đường huyết của glimepiride.
- Dưới ảnh hưởng của các thuốc ức chế giao cảm như ức chế bêta, clonidine, guanethidine và reserpine, các dấu hiệu điều chỉnh ngươc của hệ giao cảm đối với hạ đường huyết có thể giảm hoặc biến mất.
- Uống một lúc nhiều rươu hoặc uống rươu lâu ngày có thể làm tăng hay giảm tác dụng hạ đường huyết của glimepiride.
- Glimepiride có thể làm giảm hay tăng tác dụng của các chuyển hóa của coumarin.
TÁC DUNG NGOAI Ý
Hạ đường huyết :
- Triệu chứng : nhức đầu, đói cồn cào, buồn nôn, nôn, mệt mỏi, buồn ngủ, rối loạn giấc ngủ, bứt rứt, gây gổ, giảm tập trung, giảm linh hoạt, giảm phản ứng, trầm cảm, lẫn, rối loạn lời nói, mất ngôn ngữ, rối loạn thị giác, run, liệt nhẹ, rối loạn giác quan, chóng mặt, hết hơi sức, mất tự chủ, nói sảng, co giật, ngủ gà và mất tri giác đi đến hôn mê, thở cạn và nhịp tim chậm.
- Ngoài ra có thể có các triệu chứng điều hòa ngươc giao cảm như toát mồ hôi, da ẩm lạnh, lo lắng, nhịp tim nhanh, huyết áp tăng, hồi hộp, đau thắt ngực, và loạn nhịp tim.
- Bệnh cảnh lâm sàng của cơn hạ đường huyết nặng có thể giống như một cơn đột qũ.
Mắt :
Đặc biệt khi bắt đầu trị liệu, có rối loạn thị giác tạm thời do thay đổi mức độ đường huyết.
Tiêu hóa :
- Đôi khi có buồn nôn, nôn, cảm giác tức hay đầy vùng thương vị, đau bụng và tiêu chảy. Tuy nhiên không cần phải ngưng thuốc thì các phản ứng này cũng tự thuyên giảm.
- Trong các trường hơp riêng lẻ, có thể có tăng men gan và có thể có suy giảm chức năng gan.
Huyết hoc :
- Hiếm : giảm tiểu cầu nhẹ hay nặng.
- Trong các trường hơp riêng lẻ : thiếu máu tán huyết, giảm hồng cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu hạt, mất bạch cầu hạt, giảm 3 dòng.
Các phản ứng phụ khác :
- Thỉnh thoảng : phản ứng dị ứng hay giả dị ứng thí dụ ngứa, mề đay hay mẩn đỏ. Căn cứ vào sự hiểu biết về các sulfonylurea khác, các triệu chứng dị ứng nhẹ như trên có thể phát triển thành các phản ứng trầm trong với khó thở và tụt huyết áp, đôi khi đưa đến sốc. Do đó, khi có mề đay, phải báo ngay bác sĩ.
- Trong vài trường hơp riêng lẻ, có thể có giảm nồng độ natri trong huyết tương.
- Căn cứ vào các hiểu biết về các sulfonylurea khác, có thể xảy ra viêm mạch máu dị ứng hay nhạy cảm với ánh sáng.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH: – Tiểu đường phụ thuộc insulin (type I), thí dụ có tiền sử bị nhiễm keto-acid.
- Nhiễm keto-acid.
- Tiền hôn mê hay hôn mê do tiểu đường.
- Suy thận nặng : nên chuyển sang insulin.
- Suy gan nặng : nên chuyển sang insulin.
- Tăng cảm với glimepiride.
- Tăng cảm với các sulfonylurea khác.
- Tăng cảm với các sulfamide khác.
- Tăng cảm với bất cứ tá dươc nào của thuốc.
- Có thai hoặc dự định có thai : nên chuyển sang insulin.
- Cho con bú : nên chuyển sang insulin hoặc ngưng cho con bú

Leave a Reply