Accupril 20mg


HÃNG SẢN XUẤT: Parke Davis
NHÓM THUỐC: Tăng huyết áp
CÁCH DÙNG: Uống Accupril không liên quan đến bữa ăn.
Cao huyết áp :
Liệu pháp dùng một loại thuốc (đơn liệu pháp) : Liều ban đầu Accupril đươc khuyến cáo ở bệnh nhân không dùng thuốc lơi tiểu là 10 mg một lần mỗi ngày. Tùy theo đáp ứng lâm sàng, có thể chỉnh liều (bằng cách tăng đôi liều) cho đến liều duy trì tối đa là 20-40 mg/ngày uống 1 lần duy nhất hay chia làm 2 lần. Nên duy trì việc kiểm tra ở bệnh nhân đươc điều trị với liều duy nhất trong ngày. Một số bệnh nhân đươc cho dùng Accupril đến 80 mg/ngày.
Phối hơp với thuốc lơi tiểu : Ở các bệnh nhân đươc điều trị phối hơp với thuốc lơi tiểu thì liều ban đầu của Accupril đươc chỉ định là 5 mg để xem có tăng tác dụng hạ huyết áp hay không. Sau đó có thể điều chỉnh (theo cách ở trên) để có đươc đáp ứng tối ưu. Hiện nay chưa có kinh nghiệm về liều lương chuyên biệt cho bệnh nhân có thanh thải creatinin dưới 15 ml/phút. Bác sĩ cần phải cân nhắc hoặc giảm liều hoặc kéo dài thời gian giữa các lần dùng thuốc.
Suy thận : Các số liệu về động hoc cho thấy thời gian bán hủy đào thải của quinapril tăng lên khi độ thanh thải creatinin giảm. Ở bệnh nhân có thanh thải creatinin dưới 40 ml/phút, liều ban đầu phải là 5 mg mỗi ngày một lần, sau đó sẽ điều chỉnh để cho đáp ứng tối ưu (xem Bảng 2).
Bảng 2. Phác đồ liều cho bệnh nhân bị suy thận.
Thanh thải creatinine (ml/phút) < 40 . Liều ban đầu (mg/ngày) 5,0
Thanh thải creatinine (ml/phút) < 15 : Kinh nghiệm điều trị cho đến nay chưa đủ để xác định liều đặc biệt khuyến cáo cho các bệnh nhân này, do đó bác sĩ nên cân nhắc hoặc giảm liều hoặc kéo dài thời gian giữa các lần dùng thuốc.
Người già (trên 65 tuổi) : Các thay đổi về sinh lý cộng thêm tuổi già có thể ảnh hưởng đến đáp ứng của bệnh nhân đối với việc điều trị cao huyết áp. Ngoài ra, tốc độ tạo thành và đào thải quinaprilat giảm đi ở bệnh nhân trên 65 tuổi so với bệnh nhân trẻ và có liên quan đến sự suy chức năng thận thường xảy ra ở người già. Tuy nhiên, tuổi tác không ảnh hưởng đến hiệu quả và độ an toàn của quinapril. Tuy nhiên, do chức năng thận có xu hướng giảm ở người cao tuổi, nên liều ban đầu của quinapril cho người già đươc khuyến cáo là 5 mg mỗi ngày một lần, sau đó điều chỉnh để cho đáp ứng tối ưu.
Suy tim sung huyết :
Liều ban đầu khuyến cáo cho bệnh nhân suy tim sung huyết là liều duy nhất 5 mg, sau đó phải theo dõi chặt chẽ để phát hiện triệu chứng hạ huyết áp. Có thể chỉnh liều đến 40 mg mỗi ngày chia làm hai lần, phối hơp với thuốc lơi tiểu và/hay glycosid trơ tim. Tuy nhiên, thường thì liều duy trì có hiệu quả là từ 10 đến 20 mg mỗi ngày chia làm hai lần, kèm với các liệu pháp phối hơp.
THÀNH PHẦN: Quinapril 20 mg
Dươc lý :
Quinapril là một tiền chất, vào cơ thể sẽ nhanh chóng đươc thủy phân gốc ester để thành quinaprilat (còn có tên là quinapril diacid, đây là chất chuyển hóa chính của quinapril). Chất này đã đươc chứng minh qua các công trình nghiên cứu ở người và động vật là một chất ức chế men chuyển angiotensin mạnh. Men chuyển angiotensin (ACE) là một peptidyl dipeptidase. Nó xúc tác sự biến đổi của angiotensin I thành chất gây co thắt mạch là angiotensin II, chất này có liên quan đến việc kiểm soát và vận hành mạch máu thông qua nhiều cơ chế khác nhau, kể cả kích thích vỏ thương thận tiết aldosterone. Tác dụng đầu tiên của quinapril trên người và trên động vật là ức chế men chuyển angiotensin, từ đó làm giảm áp lực mạch máu và sự bài tiết aldosterone.
Sự lấy đi angiotensin II có tác dụng phản hồi âm trên sự bài tiết renin dẫn đến việc tăng hoạt tính của renin huyết tương. Quinapril có hoạt tính chống cao huyết áp khi nồng độ renin huyết tương thấp hoặc bình thường.
Các cơ chế khác có thể góp phần tạo hoạt tính của chất ức chế men chuyển bao gồm sự giãn mạch gây bởi bradykinin, giải phóng prostaglandin, giảm hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và ức chế hoạt tính của men chuyển ở mạch làm giãn mạch mạnh.
Dươc lực :
Cho bệnh nhân bị cao huyết áp vô căn dùng 10-40 mg quinapril sẽ làm giảm cả huyết áp tư thế đứng và ngồi với ảnh hưởng tối thiểu lên nhịp tim. Tác dụng hạ huyết áp bắt đầu trong vòng 1 giờ với tác dụng tối đa thường đạt đươc 2-4 giờ sau khi uống thuốc. Để có đươc tác dụng hạ huyết áp tối đa, có thể phải chờ đến 2 tuần điều trị ở một số bệnh nhân. Khi dùng ở liều khuyến cáo, tác dụng hạ huyết áp của thuốc kéo dài trong vòng 24 giờ và duy trì trong suốt thời gian điều trị dài hạn mà không bị lờn thuốc.
Phối hơp điều trị với thuốc lơi tiểu nhóm thiazide và thuốc chẹn bêta sẽ làm tăng tác dụng hạ huyết áp của Accupril.
Dùng Accupril cho bệnh nhân bị suy tim sung huyết sẽ làm giảm sức đề kháng mạch ngoại vi, giảm áp lực động mạch trung bình, giảm áp lực ở thì tâm thu và tâm trương, giảm áp lực trên mao mạch phổi và làm tăng cung lương tim.
DƯỢC ĐỘNG HỌC
Sau khi uống, quinapril đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương trong vòng 1 giờ. Quinapril có thời gian bán hủy thấy đươc là 1 giờ. Dựa trên sự tìm thấy quinapril và các chất chuyển hóa của nó trong nước tiểu, việc định lương cho thấy có khoảng 61% liều uống quinapril đươc bài tiết vào nước tiểu, trong đó thành phần chính là quinaprilat. Phần còn lại của liều uống vào đươc bài tiết qua phân.
Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của quinapril. Sau khi đươc hấp thu, quinapril đươc thủy phân gốc ester thành chất chuyển hóa chính có hoạt tính của nó là quinaprilat, đây là chất có tác động ức chế men chuyển, và các sản phẩm chuyển hóa phụ không có hoạt tính khác. Quinaprilat đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương khoảng 2 giờ sau khi uống một liều quinapril.
Quinaprilat chủ yếu đươc đào thải qua thận và có thời gian bán hủy tích lũy hữu hiệu là 3 giờ.
Khoảng 97% của cả quinapril và quinaprilat trong máu gắn kết với protein. Ở bệnh nhân suy thận, thời gian bán hủy đào thải biểu kiến của quinaprilat gia tăng trong khi sự thanh thải creatinin giảm đi. Có mối tương quan tuyến tính giữa thanh thải quinaprilat trong huyết tương và thanh thải creatinin.
Ở người già (trên 65 tuổi) sự thanh thải quinaprilat giảm đi và có liên quan đến việc suy chức năng thận thường hay gặp ở người già (xem phần Liều lương và Cách dùng).
Nồng độ quinaprilat giảm ở bệnh nhân xơ gan do rươu do quá trình thủy phân ester của quinapril bị giảm. Các nghiên cứu ở chuột cống đã chứng tỏ rằng quinapril và các chất chuyển hóa của nó không đi qua hàng rào máu não.
TƯƠNG TÁC THUỐC
Tetracycline : dùng đồng thời tetracycline với Accupril có thể làm giảm sự hấp thu của tetracycline từ 28 - 37% ở một số người. Việc giảm hấp thu là do sự hiện diện của magnesium carbonate trong thành phần tá dươc của quinapril. Tương tác này phải đươc xem xét đến khi kê đơn cùng lúc Accupril và tetracycline.
Các thuốc khác : Không có tương tác quan trong về dươc động xảy ra khi Accupril đươc sử dụng đồng thời với propranolol, hydrochlorothiazid, digoxin hoặc cimetidine. Không có thay đổi về thời gian prothrombine xảy ra khi Accupril và warfarin đươc cho dùng cùng lúc.
Dùng đồng thời với thuốc lơi tiểu : Cũng như với các thuốc ức chế men chuyển khác, bệnh nhân đang dùng thuốc lơi tiểu, đặc biệt là mới đươc điều trị bằng thuốc lơi tiểu, nếu dùng phối hơp với Accupril đôi khi đươc ghi nhận bị giảm huyết áp đáng kể sau liều khởi đầu Accupril. Có thể làm giảm khả năng bị tụt huyết áp sau khi dùng liều Accupril đầu tiên bằng cách ngưng dùng thuốc lơi tiểu hoặc tăng ăn muối trước lúc bắt đầu điều trị với quinapril. Nếu không thể ngưng dùng thuốc lơi tiểu thì bệnh nhân phải đươc theo dõi trong vòng hai giờ sau liều Accupril đầu (xem các phần Chú ý đề phòng, Liệu lương và Cách dùng)
Các thuốc làm tăng kali huyết thanh : Nếu dùng cùng lúc Accupril và các thuốc lơi tiểu giữ kali (như spironolactone, triamterene hoặc amiloride), thuốc bổ sung kali hay các muối thay thế có kali, thì cần phải thận trong và theo dõi kali huyết thường xuyên
CHỈ ĐỊNH: Cao huyết áp : Accupril đươc chỉ định trong điều trị cao huyết áp vô căn. Accupril có hiệu quả khi đươc dùng riêng hay khi đươc phối hơp với thuốc lơi tiểu và thuốc chẹn bêta ở bệnh nhân bị cao huyết áp.
Suy tim sung huyết : Accupril có hiệu quả trong điều trị suy tim sung huyết khi đươc phối hơp với thuốc lơi tiểu và/hoặc một glycoside trơ tim.
TÁC DỤNG PHỤ: Accupril đã đươc đánh giá về độ an toàn ở hơn 2000 bệnh nhân bao gồm 1265 bệnh nhân đươc điều trị trong 6 tháng, 739 bệnh nhân đươc điều trị trong 12 tháng và 173 bệnh nhân đươc điều trị trong 24 tháng. Accupril nói chung đươc dung nạp tốt trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng.
Các tác dụng ngoại ý thường nhẹ và thoáng qua. Các tác dụng phụ về lâm sàng thường thấy nhất trong các thử nghiệm có đối chứng trong điều trị cao huyết áp và suy tim sung huyết là nhức đầu (0,9%), chóng mặt (4,7%), viêm mũi (3%), ho (3,1%), nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (2,5%), mệt mỏi (2,5%) và nôn, mửa (2,3%).
Có 3,2% bệnh nhân phải ngưng điều trị do tác dụng ngoại ý.
Một số tác dụng ngoại ý xảy ra trên 0,5-1% bệnh nhân đươc điều trị bằng Accupril trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trong điều trị cao huyết áp và suy tim sung huyết, bao gồm :
Hệ tim mạch : giãn mạch.
Hệ tiêu hóa : viêm dạ dày, đầy hơi.
Hệ thần kinh : buồn ngủ.
Hệ hô hấp : viêm phế quản, khó thở.
Da : ngứa, phát ban, vã mồ hôi.
Các triệu chứng khác : phù nề, đau khớp, trầm cảm, sốt.
Kết quả thử nghiệm cận lâm sàng : không có trường hơp nào bị mất bạch cầu hạt đươc quy là do Accupril.
Tăng kali huyết : xem phần Thận trong lúc dùng.
Creatinin và nitơ urê máu : Có 3-4% bệnh nhân đươc điều trị duy nhất bằng Accupril đươc ghi nhận có tăng (> 1,25 lần giới hạn trên của giá trị bình thường). Sự gia tăng đó sẽ trở lại bình thường khi ngưng điều trị.
Phù mạch :
Phù mạch đã đươc ghi nhận ở bệnh nhân đươc điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển, kể cả Accupril. Nếu có tiếng thở rít thanh quản hay xảy ra phù mạch ở mặt, lưỡi hoặc phần thanh môn của thanh quản, phải ngừng ngay lập tức điều trị bằng Accupril và bệnh nhân phải đươc điều trị bằng các biện pháp điều trị thích hơp cho đến lúc phù nề biến mất. Trong những trường hơp phù nề chỉ giới hạn ở mặt và môi thì thường sẽ tự khỏi mà không cần điều trị ; có thể dùng thuốc kháng histamin để làm giảm nhẹ các triệu chứng. Nếu phù ở thanh quản có thể gây tử vong. Khi có phù ở lưỡi, nắp thanh quản hoặc thanh quản có khả năng gây tắc đường khí, phải tiến hành lập tức biện pháp cấp cứu : nhanh chóng cho tiêm dưới da dung dịch epinephrine 1 / 1000 (0,3 đến 0,5 ml) (xem phần Tác dụng ngoại ý).
Tụt huyết áp :
Hiếm khi xảy ra triệu chứng tụt huyết áp ở bệnh nhân cao huyết áp đươc điều trị bằng Accupril, nếu xảy ra thì có thể đó là hậu quả của liệu pháp ức chế men chuyển ở các bệnh nhân đã bị mất muối – nước, ví dụ như những bệnh nhân đã đươc điều trị trước đó bằng thuốc lơi tiểu (xem các phần Thận trong lúc dùng, Tương tác thuốc và Tác dụng ngoại ý).
Ở bệnh nhân bị suy tim sung huyết có khả năng bị hạ huyết áp, khi bắt đầu điều trị bằng Accupril nên đươc theo dõi chặt chẽ. Nên tăng cường theo dõi trong 2 tuần đầu điều trị và mỗi khi tăng liều Accupril.
Nếu xảy ra triệu chứng giảm huyết áp, cần đặt bệnh nhân nằm ngửa và, nếu cần, truyền tĩnh mạch dung dịch mặn đẳng trương. Nếu chỉ xảy ra hạ huyết áp thoáng qua thì không cần phải ngưng điều trị. Tuy nhiên trong tình huống trên, nên cân nhắc giảm liều hay phối hơp với bất kỳ biện pháp lơi tiểu nào.
Giảm bạch cầu trung tính / Mất bạch cầu hạt :
Các thuốc ức chế men chuyển hiếm khi gây mất bạch cầu hạt và suy tủy ở bệnh nhân bị cao huyết áp không có biến chứng, nhưng thường gặp hơn ở những bệnh nhân bị suy thận, đặc biệt nếu ho cũng bị bệnh hệ tạo keo. Tuy nhiên, theo dõi lâm sàng trên 2000 bệnh nhân đươc điều trị bằng Accupril thì không có trường hơp nào bị giảm bạch cầu trung tính (< 1500 bạch cầu đa nhân/mm3) hay mất bạch cầu hạt (< 2000 bạch cầu/mm3) đươc quy là do Accupril gây ra. Cũng như đối với các thuốc ức chế men chuyển khác, việc theo dõi số lương bạch cầu ở những bệnh nhân bị bệnh hệ tạo keo phải đươc xem xét.
THẬN TRỌNG LÚC DÙNG
Tổng quát :
Suy chức năng thận : Ở những bệnh nhân có mức thanh thải creatinin < 40 ml/phút, thời gian bán hủy của quinaprilat dài ra. Các bệnh nhân này nên bắt đầu điều trị ở liều đươc khuyến cáo hàng ngày và điều chỉnh tùy theo đáp ứng với điều trị. Phải theo dõi chặt chẽ chức năng thận, mặc dù các công trình nghiên cứu ban đầu trên các nhóm nhỏ bệnh nhân không cho thấy rằng quinapril hủy hoại thêm chức năng thận.
Tăng kali huyết và các thuốc lơi tiểu giữ kali : Cũng như với các thuốc ức chế men chuyển khác, bệnh nhân đươc điều trị bằng Accupril một mình có thể bị tăng kali huyết. Ảnh hưởng này có thể giúp giảm hạ kali huyết gây bởi các thuốc lơi tiểu thiazide. Chưa có nghiên cứu dùng Accupril đồng thời với các thuốc lơi tiểu giữ kali. Do có nguy cơ trên lý thuyết về khả năng làm tăng kali huyết, nên khi cần phải phối hơp điều trị như vậy thì phải thật thận trong và phải theo dõi sát kali huyết của bệnh nhân.
Phẫu thuật / Gây mê : Mặc dù chưa có đủ số liệu cho thấy rằng có sự tương tác giữa Accupril và các thuốc mê hạ huyết áp, cần phải thận trong khi bệnh nhân đươc phẫu thuật lớn hoặc đươc gây mê vì các thuốc ức chế men chuyển đã đươc cho thấy là có thể ngăn chặn sự tạo ra angiotensin II thứ phát sau sự giải phóng bù trừ của renin. Điều này có thể dẫn đến tụt huyết áp và có thể đươc điều chỉnh bằng các biện pháp làm tăng thể tích.
Sinh ung thư, đột biến, ảnh hưởng đến sinh sản :
Quinapril không gây ung thư cho chuột nhắt và chuột cống khi cho dùng với liều trên 75 mg đến 100 mg/kg/ngày (gấp 50 – 60 lần liều tối đa hàng ngày của người) trong vòng 104 tuần. Cả quinapril và quinaprilat đều không gây đột biến trong thử nghiệm vi khuẩn Ames có hoặc không có sự hoạt hóa chuyển hóa. Quinapril cũng âm tính trong các công trình nghiên cứu độc chất hoc di truyền sau đây : đột biến điểm của tế bào loài có vú in vitro, sự trao đổi giữa các thể nhiễm sắc chị em trong nuôi cấy tế bào loài có vú, test nhân nhỏ với chuột nhắt, khác thường thể nhiễm sắc in vitro với các tế bào V.79 nuôi cấy và một công trình nghiên cứu di truyền tế bào in vitro với tủy xương chuột cống. Không có tác dụng xấu trên sinh đẻ của chuột cống ở các mức liều trên 100 mg/kg/ngày (gấp 60 lần liều tối đa hàng ngày của người).
Sử dụng trong thai kỳ : Không có ảnh hưởng độc đối với thai hoặc sinh quái thai đươc quan sát ở chuột cống khi dùng liều cao đến 300 mg/kg/ngày (gấp 180 lần liều tối đa hàng ngày của người), mặc dù độc tính đối với con mẹ là 150 mg/kg/ngày. Trong lương cơ thể của lứa con thì giảm khi chuột cống mẹ đươc điều trị muộn và trong thời gian cho bú với các liều từ 25 mg/kg/ngày hoặc nhiều hơn. Quinapril không gây quái thai khi thử nghiệm trên thỏ. Tuy nhiên, người ta thấy độc tính đối với con mẹ và với bào thai là từ 1 mg/kg/ngày hoặc nhiều hơn. Chưa có nghiên cứu thử nghiệm có đối chứng trên người. Không nên dùng Accupril trong khi mang thai trừ khi lơi ích cho người mẹ cao hơn nhiều so với những nguy cơ có thể tiềm tàng cho bào thai.
Lúc cho con bú : Không rõ quinapril hay các chất chuyển hóa của nó có đươc bài tiết qua sữa mẹ hay không. Do có nhiều thuốc đươc bài tiết qua sữa mẹ, nên thận trong khi chỉ định Accupril cho bà mẹ đang cho con bú.
Sử dụng cho trẻ em : Hiện chưa xác lập đươc độ an toàn và hiệu quả của Accupril ở trẻ em.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH: Chống chỉ định Accupril cho các bệnh nhân bị quá mẫn cảm với thuốc này. Mẫn cảm chéo với các thuốc ức chế men chuyển khác chưa đươc đánh giá.

Comments are closed.